Showing posts with label Điểm sách. Show all posts
Showing posts with label Điểm sách. Show all posts

Sunday, September 25, 2011

Con đường đến sự giàu có – Benjamin Franklin

[Marketing3k.vn] “ Sự siêng năng và cần kiệm làm nên sự giàu có.” 

“ Nhiều người, chỉ vì phục trang xa hoa trên người, mà phải ôm bụng đói, và làm kiệt quệ gia đình; lụa là gấm vóc, như lời Poor Richard, đã tước đi ngọn lửa trong nhà bếp. Đấy không phải là những thứ thiết yếu của cuộc sống; hiếm khi nào chúng có thể được gọi là những món đồ tiện lợi, ấy thế nhưng chỉ vì chúng trông đẹp đẽ mà bao kẻ muốn có được chúng. Những mong muốn giả tạo của nhân loại vì thế trở nên ngày càng nhiều hơn những mong muốn tự nhiên.” 

“ Có lẽ bạn hẳn sẽ nghĩ rằng thỉnh thoảng uống thêm chút trà, hay thêm chút rượu, ăn sang hơn một chút, mua quần áo xịn hơn một chút và thỉnh thoảng đi giải trí thêm một chút có thể chẳng là gì to tát; nhưng hãy nhớ những gì Poor Richard nói…hãy cẩn thận với những cái đắt hơn chút ít ấy; một lỗ rò rỉ sẽ đánh đắm một con tàu to… và thêm nữa, kẻ ngốc làm tiệc, còn người ngôn thưởng thức.”

Benjamin Franklin 

Người ta thường gắn Benjamin Franklin với một người có tài quản lý nhà nước và là người thảo ra Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, nhưng công việc kiếm kế sinh nhai trong nhiều năm của ông lại là xuất bản, đặc biệt là xuất bản lịch. 

Phần chủ yếu của xuất bản lịch là lịch để bàn, và để tô điểm cho các trang lịch, Franklin nghĩ ra ý tưởng đưa vào các chỗ trống của tờ lịch các lời trích dẫn và cách ngôn truyền cảm. Một số do ông trích, một số khác do ông sáng tác ra và chúng trở thành một diễn đàn cho triết lý đơn giản của ông về tính cần kiệm và siêng năng làm việc, nhưng đáng giá hơn là các lời khuyên “làm giàu” 

Gọi là Lịch của Poor Richard (bút danh của Franklin là Richard Saunders), các tập sách bán chạy nhất được xuất bản hàng năm trong vòng một phần tư thế kỷ. 


Lắng nghe người cha Abraham 

Cái tựa “Con đường tới sự giàu có” trước đây là lời tựa cho cuốn lịch năm 1758. Thật hữu ích khi tập hợp các câu châm ngôn của Franklin về tính cần kiệm, sau đó chúng được nhiều người biết đến và được dịch ra nhiều thứ tiếng. 

Điều làm cho mọi người thích và nhớ lâu là nhờ Franklin dùng cách kể chuyện trong đó Richard Saunders nghe lỏm được ông già là Father Abraham kể chuyện cho một nhóm người ở một góc làng khi chờ phiên đấu giá mở cửa. 

Những người đàn ông tụ tập ở đó lên tiếng than rằng “thời gian thật khắc nghiệt.” nhưng ông già thông thái cố làm cho họ hiểu một vài điều – trích dẫn các câu nói từ Cuốn lịch của Poor Richard. Điều này hẳn nhiên làm cho tác giả rất vui thích và thừa nhận rằng trong khi các sách ông viết mang đến cho mọi người “món tráng miệng,” các lời khen cũng không dành cho ông. Hôm nay ông có được giải thưởng lớn hơn là chứng kiến các câu châm ngôn của mình được lưu hành phổ biến. Qua việc này, Franklin đạt được cả hai việc (thật đúng là một nhà tiếp thị tài ba) quảng cáo sản phẩm của mình và làm cho sản phẩm ông được mọi người khác tin tưởng hơn. 

Lặp lại điệp khúc quen thuộc của các nhà kinh doanh nhỏ, một người trong đám đông cho rằng họ không thể làm giàu nếu bị đánh thuế nặng. ông già đáp: 

“ Thực sự là thuế rất nặng, và nếu chúng ta chỉ cần đóng những khoản thuế do chính phủ đưa ra thì cũng dễ dàng; nhưng chúng ta có nhiều khoản thuế khác và chúng còn nặng nề hơn cho một số người trong chúng ta. Chúng ta bị đánh thuế hai lần bởi sự lười biếng của chúng ta, gấp ba lần bởi niềm kiêu hãnh và gấp bốn lần bởi sự điên rồ của chúng ta, và từ những khoản thuế này, uỷ viên hội đồng không thể nới lỏng cho chúng ta bằng cách giảm thuế được.” 

Ông nhắc người ta một câu nói trong Cuốn lịch của Poor Richard năm 1733 rằng “Thượng đế giúp những người biết tự giúp mình.” 

Làm việc chăm chỉ và sự độc lập 

Hãy nhớ là nước Mỹ tiền cách mạng, vẫn còn phụ thuộc vào nước Anh. Các vấn đề về nền độc lập và trách nhiệm cá nhân mà ngày nay chúng ta thường gắn kết với nước Mỹ và các nhà văn như Emerson vẫn chưa chín mùi. Những người nghiên cứu về Franklin cho rằng các cuốn sách đầu tiên của ông phản ánh thế giới đang được sinh ra với những đức tính mới – chủ yếu là về kinh tế. ở vùng đất mới, sự tiết kiệm và cần cù chính là cái mang lại thành công hơn bất cứ thứ gì khác. Khi cấu trúc xã hội vẫn còn chưa rõ ràng, thì tầng lớp hay địa vị xã hội không quan trọng mà tiền chính là sự bảo đảm. 

Chính Franklin là người đã nói câu, “thời gian là tiền bạc.” Cha Abraham trích dẫn câu nói của Poor Richard rằng: “Hãy yêu cuộc sống, đừng lãng phí thời gian, vì cuộc sống tạo nên từ thời gian.” Đây là điểm huấn giáo thực hành tiêu biểu của phái Tin lành về vấn đề lao động; thay vì chỉ cần làm việc đủ ăn và đủ sống, gầy dựng của cải là một dấu hiệu của ơn Chúa. Franklin không tín ngưỡng lắm nhưng thừa nhận rằng bí quyết để có cuộc sống tốt hơn là phát triển con người bằng lao động vất vả. Không quan trọng bạn kiếm được bao nhiêu tiền, nhưng giá trị bản thân và sự tự khám phá mình từ việc thúc ép chính bản thân mình mới là điều quan trọng. Trong sự lười biếng, bạn chẳng học được gì. Thức dậy muộn và bạn có vẻ chạy theo ngày đó; thức dậy sớm và bạn cảm thấy tự chủ. “ Đi ngủ sớm và thức dậy sớm làm cho một con người khoẻ mạnh, giàu có và thông thái.” 

Để phản đối lại xu hướng chung của mọi người muốn có được sự đền bù tức thời, cha Abraham lại trích một câu từ cuốn lịch cho những người đang lắng nghe ông, đại ý là “Nước chảy đá mòn, và nhờ cần mẫn cà kiên nhẫn, con chuột ăn được dây cáp.” 

Với hình ảnh như vậy, có thể dễ dàng nắm được thông điệp về tính bền bỉ trong Con đường đến sự giàu có. 

Niềm vui từ sự cần kiệm 

Franklin biết rằng con người có động cơ khi nghĩ đến triển vọng trở nên giàu có, tuy nhiên cần kiệm lại không phải là một ý tưởng gây hứng thú. Do đó, giải pháp của ông là phát triển các khẩu hiệu dí dỏm truyền đạt được chân giá trị của người tiết kiệm, chẳng hạn như “ Hãy cày sâu trong khi những kẻ lười biếng ngủ, và bạn sẽ có ngũ cốc để bán và để cất giữ.” Và “ Kẻ đói ăn nhìn vào nhà của người làm việc, nhưng không dám bước vào”. 

Mọi người luôn mong đợi vận may từ trên trời rơi xuống bởi vì như thế họ sẽ không phải để ý đến việc chi tiêu hằng ngày. Người kế tục Franklin là Thomas Stanley đã viết trong các sách của ông như Triệu phú ở bên cạnh và Tư duy nhà triệu phú rằng sự giàu có không đến từ việc chơi xổ số, họ biết rằng về lâu dài tiết kiệm trong chi tiêu hàng ngày nếu đem đi đầu tư sẽ gầy dựng thành một gia tài. Franklin mô tả việc này như “Một nhà bếp nhiều đồ ăn làm nên một ý chí kém cỏi” và “Thận trọng với các khoản chi tiêu nhỏ, một lỗ rò cũng có thể làm đắm một con tàu”. 

Khi người ta nhận gia tài thừa kế hay một khoản tiền nào đó mà không phải từ công sức của mình, họ chỉ nghĩ đến một cuộc sống hưởng thụ. Những ai không biết quý thời gian thường gặp vấn đề về tiền bạc. 

Nhà tù của con nợ 

Theo Franklin, những người có tiền thì tự do và độc lập hơn những người hàng xóm của họ. Con đường đến sự giàu có bắt đầu bằng việc loại trừ các khoản nợ, vì nó làm nhẹ đầu óc và làm bạn tự tin hơn, từ đó có năng suất hơn. “Thật khó để một cái túi rỗng đứng thẳng,” Poor Richard nói. 

Tuy nhiên cha Abraham, về cuối của bài giảng đã đưa thêm vào một lưu ý về sự điều độ. Đừng để chúng ta trở thành những kẻ keo kiệt, ông được nhắc nhở rằng công việc và tiết kiệm “có khả năng bị phá hoại nếu không có phúc lành của Thượng đế.” Đừng hà khắc với những người thật sự cần nó bởi vì một điều còn tệ hơn là tù nhân của nợ nần chính là tù nhân của lương tâm bạn. 

Dù nó yêu cầu mỗi mình bạn phải làm việc chăm chỉ và kỷ luật, sự giàu có vẫn là một món quà mà người khác có thể chia sẻ 

Lời bình cuối 

Bài nói chuyện của ông già sắp kết thúc thì phiên chợ mở ra và những người trong đám đông ngay lập tức quên hết mọi thứ họ đã nghe, “mua một cách ngông cuồng.” 

Trong khi Con đường đến sự giàu có đã được vạch ra rõ ràng, ít ai sẵn sàng làm theo những phương pháp đơn giản mà cuộc hành trình yêu cầu. Thay vào đó, chúng ta chọn con đường sáng chói hơn, đó là vay mượn để tiều xài mà về sau chúng ta thấy là chỉ đầy cây leo và gai

Người ta bàn cãi rằng Franklin không đi theo mẫu hình về cần kiệm và cần cù của chính ông, và đúng là ông được biết đến nhiều hơn bởi tính mạo hiểm và các thành công chớp nhoáng của ông. Con đường đến của sự giàu có do đó vó vẻ chỉ dành cho người kém cỏi trong thời kỳ khó khăn, một câu chuyện chỉ có tính lịch sử. Nhưng hãy nhìn Warren Buffett, nhà đầu tư thành công nhất thế giới vẫn thích trích dẫn các châm ngôn của Franklin và sống theo chủ nghĩa cần cù, tiết kiệm và ghét nợ nần. Thành công đòi hỏi phải có những rủi ro lớn và tầm nhìn, nhưng đi vào chi tiết cuộc sống và kiểm soát chi tiêu của bạn thì nên nhớ lại lời của cha Abraham. 

Tóm tắt về Benjamin Franklin

Sinh năm 1706, Franklin là con trai của một người thợ làm nến và con út trong số 7 người con. Công việc đầu tiên của ông là học nghề trong công ty sản xuất báo đầu tiên của Mỹ của anh trai ông. Đến Philadelphia ông lập ra tiệm in của riêng mình và vào những năm gần ba mươi tuổi ông xuất bản cuốn sách thành công là Cuốn lịch của Poor Richard. Vào những năm bốn mươi tuổi, ông kiếm đủ tiền để có thể nghỉ hưu và theo đuổi những việc làm với tư cách công dân như lập một thư viện và khởi dựng một sở cứu hoả, và các thí nghiệm của ông với điện mang đến việc phát minh ra cột thu lôi. 

Franklin là một gương tiêu biểu ở Quốc hội Pennsylvania, từ đó đưa ông đến vai trò của một người đàm phán giữa nước Anh với thuộc địa Mỹ, và ông là thành viên của hội đồng thảo nên Tuyên ngôn độc lập. Về sau ông là đại sứ ở nước Pháp. Tự truyện của Franklin còn dang dở khi ông mất năm 1790 là một kinh điển về sự phát triển con người.
Marketing3k.vn - Trích từ 50 cuốn sách kinh điển về thành công

Sunday, September 11, 2011

Tự truyện của Andrew Carnegie

[Marketing3k.vn] “Hãy ngấu nghiến trong việc học và chắc rằng những người khác cũng được lợi từ tài sản trí tuệ và tiền bạc của bạn” 

“Không có hành động tốt nào lại bị cho là vô ích. Ngay cả đến giờ này, tôi thỉnh thoảng gặp những người đàn ông mà tôi đã quên và họ nhắc lại những sự quan tâm nho nhỏ mà tôi đã dành cho họ, đặc biệt trong thời gian tôi làm việc ở đường sắt và điện báo của chính phủ Washington trong thời nội chiến. Khi tôi có thể đưa mọi người từ chiến tuyến này sang chiến tuyến kia - một người cha được giúp đỡ để gặp cậu con trai bị thương của mình ở chiến trường, hoặc được phép mang thi hài của con về nhà, hoặc các việc tương tự. Tôi biết ơn những chuyện nho nhỏ này, một số sự quan tâm hạnh phúc nhất và những sự cố làm hài lòng nhất trong cuộc đời tôi.” 

“Lời khuyên của tôi dành cho những thanh niên là không chỉ dành thời gian và quan tâm cho chỉ một việc mà nên bỏ đô la trong số vốn của mình vào đó…Còn đối với bản thân tôi, quyết định của tôi đã được đưa ra từ sớm. Tôi tập trung vào sản xuất thép và thành bậc thầy trong lĩnh vực.” 

Andrew Carnegie 

Ông của Andrew Carnegie là người đầu tiên lập ra thư viện nhỏ cho mượn sách tại quê hương của Carnegie ở Dunfermline, Scotland, vào thời chưa có thư viện công cộng. Là những người dệt vải bình thường, gia đình của ông không giàu có gì, nhưng sự yêu thích và tôn trọng dành cho sách truyền đạt kiến thức tạo một dấu ấn lên chàng trai Andrew. Về sau, khi ông giàu có, tủ sách là sự chọn lựa hiển nhiên để ông tiêu hàng đống tiền vào đó. 

Dù không được đi học đàng hoàng, Carnegie đánh giá cao giá trị của người có đầu óc cởi mở. Cũng giống Benjamin Franklin, ông biết rằng “những người lãnh đạo là những người đọc nhiều sách” và rằng của cải được tạo ra từ kiến thức sâu rộng và tư duy tốt. Khi thư viện đầu tiên do ông tài trợ được xây, người ta yêu cầu để huy hiệu của ông ở lối vào. Thay vào đó, ông yêu cầu có một tấm bảng vẽ mặt trời và tia nắng cùng hàng chữ “Hãy để nơi này thắp ánh sáng.” 

Câu chuyện ngắn của gia đình Carnegie 

Sinh năm 1835, Carnegie vui hưởng tuổi thơ của mình trong sự che chở đùm bọc của một gia đình nhiều thế hệ. Cha của ông đưa cả gia đình đến Mỹ khi ông sắp lên mười tuổi, nhưng giọng nói của Carnegie và tình cảm dành cho mọi thứ thuộc Scotland không bao giờ rời ông. 

Ông từng làm nhân viên điện báo và đường sắt ở Pittsburgh, và sau đó đi lên từ công ty đường sắt Pennsylvania. Khi nội chiến nổ ra, ông được yêu cầu phụ trách mảng đường sắt và điện báo của chính phủ Mỹ, và ông đã đảm trách công việc một cách xuất sắc. Ông là một người theo đảng Cộng hoà và chống lại chủ nghĩa nô lệ, và đây là cơ hội tốt để ông phục vụ cho tổ chức này. 

Ngoài khả năng to lớn trong công việc và cách đối xử với con người, Carnegie đã chọn đúng con đường cho mình. Hệ thống đường sắt của nước Mỹ đang trong thời kỳ phát triển nhanh, và ông đánh giá rằng “một ngành sản xuất như của chúng ta chắc chắn khó phát triển nhanh đủ để phục vụ mong muốn của người Mỹ.” 


Sau khi bán công trình sản xuất thép lớn nhất của ông ở Mỹ, ông trở thành người giàu nhất thế giới. Ông trải qua thời kỳ nghỉ hưu ở lâu đài Skibo yêu quý của ông ở Scotland, và qua đời ở Lenox, Massacchusetts vào năm 1919. 

Nguyện vọng của ông là dành trên 100 triệu đôla để xây các thư viện công cộng trên khắp nước Mỹ và Anh, và dành nhiều quà tặng cho các trường đại học. Người yêu chuộng hoà bình Carnegie rất buồn lòng bởi chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ, và cũng tài trợ tiền cho các tổ chức cổ đông cho hoà bình và nghiên cứu nguyên nhân của chiến tranh. 

Lời khuyên thành công trong cuộc sống và công việc của Carnegie 

Đầu tư vào bản thân 

Carnegie ghét việc đầu cơ chứng khoán. Ông nghĩ rằng một sự đầu tư tốt hơn là chọn một ngành nghề, học mọi thứ về ngành đó, và đầu tư cho việc kinh doanh của chính bạn: 

“Tôi tin rằng con đường đúng để đạt thành công xuất sắc ở bất kỳ ngành nào là trở thành người thông thạo trong ngành đó. Tôi không tin vào việc phung phí nguồn lực vào quá nhiều thứ. Và theo kinh nghiệm, tôi hiếm khi, nếu không nói là chưa bao giờ, gặp một người đàn ông thành công xuất sắc trong việc kiếm tiền…mà lại quan tâm đến nhiều thứ.” 

Đây là sức mạnh của tập trung, của việc hy sinh những thứ bạn có thể kiếm nhờ sự trải rộng để đạt một thị trường nhỏ hơn nhưng được xác định rõ ràng. 

…nhưng hãy phân tán các rủi ro 

Nhờ thành công lớn từ khi còn trẻ, Carnegie nổi tiếng là người táo bạo và không hề sợ sệt trong kinh doanh. Ông nói rằng hình ảnh này chính là sự thật. Thực ra, ông không bao giờ quá mạo hiểm vốn của chính mình hay của các đối tác: “Khi tôi làm một việc lớn, một số công ty lớn như Pennsylvania Railroad Company đứng đằng sau tôi và là người chịu trách nhiệm.” 

Bạn không nhất thiết phải mạo hiểm mọi thứ để suy nghĩ và hành động lớn lao. Bài học của Carnegie là làm sao để người khác nhận rủi ro và dùng uy tín của họ để hỗ trợ cho công ty của bạn. 

Thành công đến từ sự cởi mở và đối xử tốt với mọi người 

Carnegie tìm cách tạo ra sự minh bạch trong quản lý của tất cả nhà máy công nghiệp của ông. Ông giữ chúng thật trật tự và sạch sẽ và mời đón những thanh tra chính phủ. Ông luôn tìm kiếm những mối quan hệ tốt với các nhân viên của mình, và thường cho nhân viên thừ mà họ muốn trong chừng mực hợp lý. Vụ đình công ở nhà máy Hommested nổi tiếng với nhiều người chết xãy ra khi ông đang đi Scotland và việc này có thể đã không xảy ra nếu ông có mặt ở đó. 

Ông đã giúp nhiều nhân viên của ông trở thành giàu có. Giám đốc nhà máy Charles Schawb là người đầu tiên ở Mỹ được trả 1 triệu đôla mỗi năm. Trong cuốn Tư Duy và trở nên giàu có của Napoleon Hill, tác giả chú ý rằng số tiền lớn này không phải trả cho chuyên môn kỹ thuật của Schawb mà cho khả năng động viên nhân viên tuyệt vời của ông. Cũng như những gương thành công to lớn khác. Carnegie là một sinh viên học về bản tính con người và biết rằng chuyển năng lượng một cách hiệu quả vào lực lượng lao động là bằng chứng của một nhà lãnh đạo thực sự. Ông lưu ý: “Tôi không hiểu máy chạy bằng hơi nước, nhưng tôi cố hiểu cơ chế phức tạp hơn nhiều, đó chính là con người.” 


Hãy kiểm soát tâm trạng của bạn 

“Một tâm trạng vui vẻ đáng giá hơn cả gia tài. Người trẻ nên biết rằng tính tình có thể được trau dồi; rằng tinh thần cũng như thân thể có thể được chuyển từ bóng tối sang ánh sáng.” 

Hãy đọc ba dỏng này một lần nữa. Câu nói giản dị của Carnegie tóm lược hàng trăm sách về tự giúp bản thân và bí quyết thành công. 

Nói trước công chúng thực ra chỉ là nói 

Carnegie có hai quy luật để nói: 
  1. Nói với người ta, chứ không phải nói về họ. 
  2. Hãy là chính bạn, đừng cố gắng trở thành một “người diễn thuyết.” 
Hãy nhớ lời khuyên của Carnegie và bạn sẽ không cần phải theo học một lớp học đắt tiền nào. Cần phải bổ sung rằng để “là chính bạn” bạn phải bỏ thời gian để hiểu bạn là ai và bạn đại diện cho điều gì. Diễn thuyết là nói ra một từ như cách bạn muốn nó như vậy. Nói chuyện đến từ trái tim và luôn luôn chân thật. 

Hãy mở rộng quan hệ của bạn 

Bạn bè của Carnegie có Judge Mellon, Matthew Arnold, James Blaine, William Gladstone, tổng thống Harrison, Mark Twain, và Herbert Spencer. Những quan hệ này không được vun đắp để ông có thể khoe khoang với mọi người mà để ông có thể học hỏi trực tiếp từ kinh nghiệm và kiến thức riêng có của họ. Hãy luôn tìm kiếm những con người thú vị. 

Tìm kiếm kiến thức và giá trị, chứ không chỉ có tiền bạc 

Vào một buổi tối năm 1868 lúc ông được 33 tuổi, Carnegie viết một ghi nhớ cho bản thân ông khi ở khách sạn St. Nicholas ở NewYork. Ông bắt đầu cuốn ghi nhớ bằng “Ba mươi ba tuổi và thu nhập 50.000 USD một năm” và nói rằng ông có thể tổ chức công việc kinh doanh để kiếm được cùng số tiền đó mỗi năm, trong khi đó dành số tiền dư ra cho “các mục đích từ thiện” Trở nên triết lý hơn, ông viết về ý định nghỉ hưu lúc 35 tuổi và từ đó trở đi sẽ dành thời gian đọc sách và nghiên cứu. Dĩ nhiên ông đã không làm như vậy, nhưng qua việc này bạn thấy mầm mống của lòng bác ái của ông về sau này. Kiến thức có được từ việc đọc và nghiên cứu biểu trưng cho giá trị thực; một cuộc sống tốt là thực sự rộng mở đầu óc. Chỉ có tiền bạc thì không có giá trị gì. 

Đi du lịch để mở mang đầu óc 

Carnegie thích đi du lịch, đặc biệt khi có một chút phiêu lưu, và thôi thúc người khác quan sát thế giới nhiều hơn. Cuốn sách của ông tự đề Một người Mỹ đi xe tứ mã ở Anh ghi chép cuộc hành trình trên lưng ngựa dọc chiều dài của đất nước. Trong chuyến đi, ông cố gắng tìm hiểu sâu sắc về văn hoá từng vùng ông đi qua, chẳng hạn khi đến Trung Quốc ông đọc về Khổng Tử và khi đến Ấn Độ ông suy nghĩ về Phật và Bái Hoả Giáo. Sự tôn trọng dành cho các tôn giáo là đặc trưng cho sự cới mở tiếp thu của Carnegie, và cho niềm tin của ông rằng đi thăm những vùng đất mới sẽ giúp con người đánh giá tốt hơn về cái tổng thể. 

Lời bình cuối 

1835 - 1919
Với một giọng văn khiêm tốn, cuốn sách nhắc người đọc nhớ lại cuốn tự truyện của Benjamin Franklin, và cũng như sách của Franklin, nó làm kinh ngạc với câu chuyện về một người xuất thân tầm thường có thể thành công đến như vậy. Bạn hầu như sẽ chán ngán các chi tiết về những người đã giúp ông và trở thành người cố vấn của ông. Và dù chuyên tâm vào một vấn đề, là một người quyết đoán, luôn bằng mọi giá phải gặt hái thành công và đôi khi tàn nhẫn, Carnegie luôn muốn đền đáp lại thiện ý và chia sẻ thành công của ông. Ông nói với một vẻ thích thú về tuổi thơ của ông và sự suy sụp khi mẹ và anh trai của ông chết vì bệnh thương hàn, cả hai người đều đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp thành công thành của ông. Đám cưới dù muộn nhưng hạnh phúc đã giúp ông vui sống trở lại. 

Việc tài trợ rất nhiều cho thư viện của Carnegie là một trong những hành động tốt đẹp trong lịch sử, và tên của ông bay giờ gắn liền với tiền ông cho đi hơn là tiền ông làm ra. Câu chuyện của ông cho thấy rằng việc tích luỹ của cải bởi một cá nhân, nếu người đó có những hành động cao quý, là một trong những cách tốt nhất để làm cho thế giới tốt đẹp hơn.
Marketing3k.vn - 50 cuốn sách thành công

Saturday, August 27, 2011

Sự thịnh vượng và nghèo khó của các quốc gia – David S. Landes

[Marketing3k.vn] Thành công thật sự không bao giờ là một sự tình cờ. người thành công có một văn hóa tiến bộ kết hợp sự ham học và vận dụng liên tục. 

“Tròn trịa, đầy đủ, bề ngoài thư thái, vô cùng hòa hợp, đế chế Trung Hoa cứ thế phát triển trong hàng trăm năm, không để vượt qua mặt và không hề nao núng. Nhưng thế giới đã vượt qua nó.” 

“Xã hội Mỹ của những người tiểu chủ và công nhân được trả lương khá là nơi của dân chủ và sự dám làm. Sự bình đẵng tạo nên sự tôn trọng, tham vọng, sự sẵn sàng bước vào và cạnh tranh trên thị trường, một tinh thần cá nhân và hay tranh luận.” 

“Nếu chúng ta học được bất kỳ thứ gì từ lịch sử phát triển kinh tế, đó chính là văn hóa tạo ra sự khác biệt… Tuy nhiên, văn hóa theo nghĩa của giá trị nội tại và thái độ dẫn dắt một dân tộc khiến những nhà nghiên cứu cũng phải hoảng sợ.” 

Những nghiên cứu về sự thành công nếu thực sự muốn khám bí quyết và mô hình của thành công phải chuẩn bị để điều tra thực địa ở những địa điểm kỳ lạ. Nhiều cuốn sách đã đưa chúng ta khám phá thế giới của công ty, bây giờ chúng ta sẽ tìm kiếm những manh mối của thành công ở các quốc gia. Phần bình luận này sẽ dài hơn nhưng hy vọng những gì nó mang đến sẽ bù đắp lại thời gian bạn dành để đọc nó. 

Châu Âu thời trung cổ 

David Landers nhận xét, thế giới chưa bao giờ là sân chơi bằng phẳng. Khí hậu và địa lý (“sự bất công của tự nhiên”) khiến cho một số nước khuyết tật, đặc biệt là những vùng khí hậu nóng, trong khi đó những vùng đất ôn hoà thường được ưu đãi những trận mưa rào, đất trồng trọt tốt, những khu rừng gỗ cứng và cái lạnh có thể chịu đựng được, nếu không kể đến các điều kiện thuận lợi cho việc chăn nuôi gia súc. Những yếu tố đó tạo điều kiện hình thành những xã hội ổn định hơn và mức phát triển kinh tế cao hơn và cũng là những yếu tố chính khiến châu Âu phát triển chậm trong thời Trung cổ. 

Một ngàn năm trước, không ai có thể dự báo được sự thống trị của châu Âu lục địa. Châu âu lục địa lúc đó bị người Viking tấn công từ phía Bắc, người Marốc từ phía Nam và người Hungary từ phía Đông, và người châu Âu lục địa cũng bị lạc hậu về mặt trí tuệ và kỹ thuật trong việc theo kịp văn minh của người Ả rập và Trung Hoa. 

Tuy nhiên, châu Âu có một thứ tỏ ra rất có giá trị: nó thừa kế truyền thống dân chủ và trọng nhân tài, tuy vẫn chưa hoàn thiện, của người La Mã cổ điển và người Hy Lạp. Ngược lại, văn hoá chính trị của những nước văn minh xung quanh chủ yếu mang tính chuyên chế; Landes mô tả nó là ”sự điều hành bằng cách vắt ép” có nghĩa là khi nhà nước muốn có nhiều nguồn lực, của cải hơn, họ không ngại lấy bớt từ dân chúng. Châu Âu cũng có không ít nhà thống trị chuyên quyền, nhưng quan niệm về sở hữu tư nhân thúc đẩy con người và khuyến khích doanh nghiệp làm giàu. Giáo lý cơ đốc thời Trung cổ cũng đặt ra những hạn chế đối với hành vi của người thống trị, bởi vì họ tuân phục Thiên Chúa và không được ngược đãi dân thường. Giáo phẩm của đạo Cơ đốc yêu cầu làm đúng phương pháp, quy định của pháp luật và bảo vệ tàu sản kiếm được một cách hợp pháp. 

Tất cả điều này làm cho châu Âu khác biệt với những vùng khác. Bánh xe nước, mắt kính, đồng hồ treo tường và đồng hồ đeo tay và sách in đều là những phát minh của châu Âu thời Trung cổ. Gutenberg phát hành kinh thánh năm 1452 và đến năm 1501 đã có hàng triệu sách ở châu Âu. Trong khi đó, nước Trung Hoa vẫn bình thản trong sự cô lập với thế giới bên ngoài và không cần phải học hỏi cái mới từ bên ngoài, đặc biệt nếu những cái mới đến từ “người man rợ.” Những người cầm quyền Trung Hoa sợ “bị thống trị” điều hành mọi việc và yêu cầu sự tuân thủ hoàn toàn. Sự táo bạo được xem là một mối đe doạ. 

Do đó, châu Âu đã vượt qua Trung Quốc nhờ cải tiến và phỏng theo các phát minh của Trung Quốc. Landes nói, không giống như Trung Quốc, “châu Âu là một châu lục học hỏi”. Dù cũng có những kiểu nhà nước phong kiến có vua và hoàng hậu, quý tộc và tá điền, nhưng châu Âu Trung cổ có những thành phố và vùng miền sống động và tự tổ chức. Về cơ bản đó là một thị trường tự do không chỉ tự do về sản phẩm mà còn về tư tưởng. Văn chương không chỉ là sản phẩm xa hoa dành cho người giàu. Landes nói: người châu Âu cho dù là công dân bình thường hay quan chức đều học, viết và xuất bản ấn phẩm. Động cơ thúc đẩy họ chính là mong muốn ghi chép lại nhưng đồng thời cũng vì sự ham hiểu biết. 

Mọi quốc gia phát triển tốt đều biểu lộ cái mà Landes gọi là “xây dựng” - tức là sự tích luỹ kiến thức và bí quyết qua các năm tháng; và “đột phá” – có nghĩa là đạt được một ngưỡng mà ở đó mọi việc đều tự lấy đà bật lên. Theo ông, ba yếu tố tạo nên sự thành công của châu Âu và khiến nó trở thành vùng đất của khoa học và về sau là nơi bắt đầu cách mạng công nghiệp là: 

  1. Tự trị và không bị phụ thuộc vào tư tưởng nhà thờ hay sự can thiệp của nhà nước. 


  2. Tạo ra một cơ chế cung cấp kiến thức được chấp nhận rộng rãi. 

  3. Phổ biến việc nghiên cứu như một hoạt động được chấp thuận: “tạo nên sự phát minh”


Nước Anh thế kỷ mười chín 

Tại sao cuộc cách mạng công nghiệp lại diễn ra ở Anh? Landes cho rằng trước tiên đất nước này đã có một cơ cấu xã hội, tri thức và chính trị phát triển cho phép sự xuất hiện tinh thần doanh nghiệp; một cơ chế bảo đảm cho quyền sở hữu, giáo dục nền tảng và nâng cao, quyền tự do cơ bản của con người. Về những mặt này, người Anh khá hơn các nước khác ở châu Âu. Người Anh có lợi thế là ít bị ràng buộc tôn giáo nhờ kết quả của tiếp nhận dòng người từ lục địa châu Âu, chẳng hạn như tá điền từ Hà Lan, thương nhân người Do Thái, thợ thủ công từ Pháp. Người Anh theo đạo Thiên chúa không thể trở thành thành viên của nghị viện hay vào trường đại học nhưng về những mặt khác thì họ tự do phát triển. 

Dù nổi tiếng với hệ thống giai cấp, mọi người vẫn có cơ hội thăng tiến ở nước Anh hơn bất kỳ nơi nào khác ở châu Âu và dĩ nhiên là hơn các nước khác ngoài châu Âu nữa. Napoleon đã gọi nước Anh là nước của những người chủ hiệu, ông cũng có lý khi nói như vậy bởi vì đó là một nước thịnh vượng lên nhờ tiêu thụ. Hàng hoá làm ra để người trung bình có thể mua được, không chỉ dành cho người giàu; đó là một dấu hiệu của nền kinh tế hiện đại. Mặc dù vậy bạn cũng không thể dự báo rằng nước Anh sẽ trở thành cái nôi cách mạng của thế giới vào thế kỷ thứ mười chín. Như Landes nói, “Nước Anh có những yếu tố thành công; nhưng nước Anh cũng tự làm nên thành công". Từ việc có khả năng hay kiến thức đến việc vận dụng chúng là một khoảng cách rất lớn. Sự vượt trội của đất nước này là “không phải là do Thượng đế ban tặng hay ngẫu nhiên, mà là kết quả của lao động, sự khéo léo, óc tưởng tượng và dám nghĩ dám làm.” 

Đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha 

Trở lại thời gian trước đây, trong khi Trung Quốc tự cô lập với thế giới bên ngoài thì Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã giao thương mua bán dọc bờ biển châu Phi và Ấn Độ và những vùng lân cận vào thế kỷ 15. Trong cơn thèm khát tìm kiếm vàng bạc, người Tây Ban Nha cuối cùng đến vùng Incas. Đế chế Incas hoạt động rất hiệu quả, nhưng người trị vì là những kẻ chuyên quyền; còn văn hoá, theo Landes thì, ”tước đi của người dân sự sáng kiến, tự chủ và nhân cách.” Vua là “một người phân chia tối thượng”; tất cả đất đai là của vua. Đế chế quy tập những con người khác nhau và lập nên một tiếng nói chung, nhưng do bị hạn chế giao lưu với thế giới bên ngoài (cũng không có tài liệu ghi chép lại) nên đế chế này đánh giá sai ý định của người Tây Ban Nha và tự cho mình quá mạnh và không thể bị đánh bại (một sự kiêu ngạo thuồng thấy của các đế chế). 

Landes gọi người Tây Ban Nha là “những kẻ mắc bệnh ăn cướp” thích lấy của người khác hơn là tự làm và thường nhân danh Thượng Đế. Kết hợp của sự tham lam và tính chính đáng mở đường cho sự bóc lột và tàn bạo. Tuy nhiên, hõ đạt được mục đích của mình; tìm kiếm những thị trường mới và mang về cho họ rất nhiều của cải và Madrid trở thành thành phố giàu nhất châu Âu. 

Vậy tại sao Tây Ban Nha lại suy tàn? Đó là bởi vì tiền không được đầu tư mà chỉ tiêu vào cuộc sống xa xỉ và chiến tranh. Bởi vì đất nước này không tạo ra thêm của cải khác từ bất kỳ ngành công nghiệp nào, Landes nói, họ không nghĩ đến việc dùng tiền bạc sao cho có ích. Ông nói, “ Của cải không tốt bằng lao động, sự giàu có không tốt bằng việc tạo ra sự giàu có”. Tây Ban Nha thiếu sự đề cao lao động chăm chỉ mà người Hà Lan, Anh, Pháp và Genoese đã quá phát triển và quá tin vào vị thế cao về tôn giáo và xã hội của mình. Họ phải dựa vào những người bên ngoài để thực hiện việc buôn bán và làm việc cho họ, còn công việc chân tay thì bị coi thường. 

Theo quan điểm của Landes, nước Tây Ban Nha trở nên nghèo bởi vì nó có quá nhiều tiền trong khi các quốc gia khác phải tập thói quen làm việc nên tạo ra được của cải một cách bền vững hơn. Trong khi Tây Ban Nha còn mãi suy nghĩ để quyết định cách tiêu các thỏi vàng, ở các nơi khác ở châu Âu người ta đang học cách dệt vải, luyện sắt, dùng gỗ, xử lý dầu mỡ lấy từ cá voi và khai thác than, những sản phẩm ít giá trị hơn nhưng công việc cần để tạo nên chúng khiến chúng ta không thể phung phí những thành quả của lao động. 

Thành công của Bồ Đào Nha là một điều ngạc nhiên. Một quốc gia chỉ với một triệu người vào thế kỷ 15, với nhiều thuộc địa từ phía đông của vùng Ấn Độ đến Ấn Độ rồi Brazil, đặc biệt là chia một “một nữa thế giới” với Tây Ban Nha. Thế nhưng đất nước này đã “tự bắn vào chân mình” khi phỏng theo trào lưu chính thống đạo Cơ đốc của nước láng giềng lớn hơn. Những người Do Thái chạy trốn khỏi Tây Ban Nha sang Bồ Đào Nha để tránh bị truy đuổi thấy mình có đời sống tốt hơn lên, nhưng các cuộc tàn sát người Do Thái đã khiến nhiều người bị chết và số còn lại bị buộc theo đạo Cơ đốc. Đó là một sai lầm chết người bởi vì người Do Thái là những thương nhân đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và cũng nằm trong số những nhà khoa học tốt nhất. Landes nói, họ bỏ đi từng đoàn và Bồ Đào Nha đã rơi xuống vực sâu của sự cố chấp, cuồng tín và máu đổ. Toà án dị giáo của Bồ Đào Nha làm theo người Tây Ban Nha, thiêu sống người theo dị giáo, và nó còn tệ hơn khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được thống nhất lại dưới sự trị vì của Philip II. 

Bồ Đào Nha mất vị trí dẫn đầu về nghiên cứu khoa học và quay sang hướng nội, giáo dục và học hành bị kiểm soát chặt chẽ bởi nhà thờ. Nước này vẫn theo chế độ chuyên chế, nhưng đánh mất nền tảng của ngành khoa học quan trọng là thiên văn học và hàng hải, và năng suất trong ngành nông nghiệp cũng giảm sút. Các tư tưởng mới và công nghệ kết hợp với phong trào cải cách của đạo Tin Lành đương nhiên chỉ đi ngang qua đất nước này. Vào năm 1700, Landes nói, Bồ Đào Nha “đã trở thành một quốc gia lạc hậu và yếu kém”. 

Từ đó chúng ta rút ra một công thức đơn giản, được áp dụng nhiều lần trong lịch sử và chắc chắn cũng áp dụng với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha: tư duy bị trói buộc = thất bại kinh tế

Văn hoá có ý nghĩa quan trọng 

Cuốn sách của Landes được xuất bản cùng năm với sách bán chạy nhất của Jared Diamond, Súng, Vi trùng và Thép, ông này cho rằng điều kiện địa lý thuận lợi là yếu tố chính cho sự thành công của châu Âu. Nói chung nó mang tính thuyết phục, nhưng Diamond không thực sự giải thích tại sao lại có sự không đồng đều về thịnh vượng trong thế giới hiện đại. Landes cho rằng mặc dù địa lý đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia, nhưng “nếu xem địa lý như là số mệnh thì đó là sai lầm.”. Thực tế thì châu Âu may mắn nhưng “may mắn chỉ là sự bắt đầu” 

Landes nói, một vài sử gia đi tìm kiếm “một nền lịch sử đa văn hoá, toàn cầu và quân bình cho biết một điều gì đó (tốt hơn là điều tốt) về mọi người”. Theo giản đồ này, thành công của châu Âu/Mỹ được coi là một sự ngẫu nhiên. Nhưng nếu điều này đúng thì làm thế nào chúng ta giải thích nguyên nhân của công nghiệp hoá và thịnh vượng của các nước châu Á như Malaysia, Singapore và Hàn Quốc sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi phần lớn các quốc gia châu Phi và Nam Mỹ dừng lại hay thụt lùi? Chẳng lẽ sự tiến bộ của các nước này chỉ là ngẫu nhiên? 

Một lý lẽ như thế chắc chắn không nhận thấy nỗ lực của những con người và chỉ một vài người trong số đó là lãnh đạo hay quan chức chính phủ. Có một luận điểm khác cho rằng: có thể những đất nước khác không muốn công nghiệp hoá và đi theo thể chế phương Tây; họ chống lại một cách chính đáng bất kỳ hình thức đế quốc nào. Landes thừa nhận rằng điều này có lý do của nó, tuy nhiên sự thịnh vượng là thịnh vượng và nghèo khó là nghèo khó. Cho dù bạn đang ở đất nước nào, nhiều nơi trong số này đã có nhiều cơ hội cải thiện tình hình. Vậy cái gì là “yếu tố X” phân biệt các quốc gia năng động, thành công với các quốc gia kém phát triển? 

Bất kỳ nhà nghiên cứu văn hoá và kinh tế nào cũng không thể không biết đến bài viết nổi tiếng của Max Weber “Nguyên tắc xử thế của người Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản” Dù bị các sử gia chủ nghĩa xét lại chế giễu, Landes cho rằng có nhiều bằng chứng cho lý thuyết của ông ấy rằng lao động chăm chỉ và sự trung thực của người theo đạo Tin Lành châu Âu tạo điều kiện cho người dân tích luỹ của cải. Phong trào cải cách của đạo Tin Lành cũng đi đôi với tỷ lệ người biết đọc, biết viết cao hơn và thách thức các giáo điều nhằm phục vụ cho sự tiến bộ khoa học. Một văn hoá đọc sách, học tập, và thách thức hình thành, điều này khác xa so với đế quốc Trung Hoa và Tây Ban Nha. Ý thức về sự tiến bộ thế chổ cho sự tôn trọng mù quáng quyền thế. Thay vì phạm lỗi, sự ham học và cách tân thường là con đường dẫn tới sự giàu có. Những thái độ đó, dĩ nhiên là yếu tố mang đến sự thành công của nước Mỹ. 

Yếu tố X vì vậy là văn hoá của sự tiến bộ kết hợp sự ham học hỏi, cải tiến và ứng dụng. 

Kỳ lạ thay, việc tìm cách nhận dạng văn hoá kinh tế thành công là điều cấm kỵ ở một vài nơi bởi vì điều đó có liên quan đến chủng tộc và tính thượng đẳng. Thái độ này là một điều đáng tiếc bởi vì Sự thịnh vượng và nghèo khó của các quốc gia về cơ bản là một khối lượng tri thức về quy luật cơ bản của thành công, đối với bất kỳ ai đã áp dụng chúng. 

Sự thịnh vượng và nghèo khó của các quốc gia đạo Hồi

Văn minh đạo Hồi từng là người thầy của châu Âu, vượt lên châu Âu về việc học và văn hoá. Nhưng từ chiến thắng năm 1187, khi người tham gia thập tự chinh Cơ đốc giáo ra khỏi Trung Đông, Landes cho rằng “con đường của đạo Hồi gần như đi xuống dốc”. Trong khi châu Âu đang tách tôn giáo ra khỏi giáo sĩ thế tục, đề cao sự kiện, học tập, tiến bộ khoa học, đạo Hồi vẫn chú trọng đến chính trị thần quyền: một nhà nước tốt là nhà nước có tôn giáo, và những ai cống hiến cho khoa học không phải là những người đáng tin cậy. 

Di sản là gì? Chỉ có trường hợp ngoại lệ của các tiểu vương quốc Ả Rập giàu có nhờ dầu lửa, phần lớn các quốc gia theo đạo Hồi gặp khó khăn về kinh tế. Cũng như người Tây Ban Nha đi xâm chiếm Trung và Nam Mỹ, sự may mắn có được nguồn tài nguyên dầu lửa là một điều bất lợi hơn là lợi ích; việc phát triển các công trình công nghiệp có thể cạnh tranh với thế giới không được cho là cần thiết. 

Ngày nay các quốc gia đạo Hồi đối mặt với một trở ngại lớn khác cho sự phát triển và thịnh vượng: phụ nữ vẫn tách khỏi lực lượng lao động. Landes cho rằng “dấu hiệu tốt nhất cho sự phát triển và tiềm năng phát triển của một quốc gia là địa vị và vai trò của người phụ nữ. Đây là sự cản trở lớn nhất của các xã hội đạo Hồi ở khu vực Trung Đông ngày nay, một rào cản ngăn các nước này tiến lên hiện đại.” 

Lời bình cuối 

Trong hơn 500 trang, Sự thịnh vượng và nghèo khó của các quốc gia phức tạp và tinh tế hơn nhiều so với bình luận có thể chuyển tải ở đây, và ở đây chúng tôi có đủ chỗ cho và ví dụ về lý lẽ của Landes. Cuốn sách đáng để đọc hai lần: một lần để đọc lướt qua, một lần để khám phá các chi tiết hấp dẫn. 

Tựa đề hiển nhiên được phỏng theo cuốn Sự thịnh vượng của các quốc gia của Adam Smith (1776), nhưng Landes cho rằng cần phải nhìn vào sự giàu có cũng như sự nghèo nàn bởi vì thất bại là người thầy tốt. Ông có tìm ra sự tương đồng nào của các quốc gia không thành công không? Ông thừa nhận về mặt chính trị thì câu trả lời của ông không đúng mà đó gần như là sự thất bại đơn thuần về áp dụng. Chẳng hạn ở châu Mỹ La tinh, ông lưu ý rằng ngay cả hơn 200 năm sau độc lập chính trị, châu lục này vẫn bị kìm hãm bởi sự quản lý tồi và tham nhũng, vẫn nằm trong tình trạnh không ổn định vì vay mượn và thao túng, kiểm soát tiền tệ. Mỗi một thuộc địa cũ phải thừa nhận ra rằng độc lập không đảm bảo hạnh phúc và thịnh vượng; các nền công nghiệp phải dần được phát triển, con người phải được giáo dục tử tế và thành lập các tổ chức

Một số đặc điểm của các quốc gia giàu có là tin vào sự tiến bộ; mở cửa đón nhận ảnh hưởng bên ngoài; khát khao tạo ra sản phẩm hơn tiêu thụ; chú trọng vấn đề học tập; nhấn mạnh xây dựng cơ sở lập luận; và chính phủ do người dân và cho người dân. Ngược lại, đi theo trào lưu chính thống để tìm kiếm sự trong sạch là các căn bệnh sẽ nhanh chóng giết chết nền kinh tế. 

Các quốc gia lac quan, chăm chỉ lao động sẽ luôn có được lợi thế, nhưng chính các tính chất của cá nhân mới làm nên những quốc gia như vậy, và với đủ số người có cùng cách nghĩ sẽ có một văn hoá. Trong sự giàu có hay nghèo nàn, thành công hay thất bại của các quốc gia, văn hoá đóng vai trò quan trọng. Trong sự thành công hay thất bại của các cá nhân, “văn hoá” chính là tính cách - sự trung thực, kiên trì, sự chuyên cần, tầm nhìn rộng, sự tự học, sống bằng kết quả

Cuối cuốn sách, Landes thừa nhận rằng phương pháp tự trao quyền hành động cho mình nghe có vẻ sáo rỗng. Nhưng trong thâm tâm của mỗi người, mỗi quốc gia, mỗi công ty đều biết rằng điều đó đúng. Năng khiếu tự nhiên luôn là một lợi thế, nhưng không ai sinh ra đã thành công, cũng như các quốc gia không phải sinh ra đã thịnh vượng. 

Về David S.Landes 

Là một trong những sử gia xuất sắc người Mỹ thời hậu chiến, Landes sinh năm 1924 và theo học trường City College, New York, và đại học Harvard. Ông là giáo sư danh dự môn lịch sử và kinh tế học tại đại học Harvard, và đã làm giáo sư lịch sử và kinh tế học tại một số trường đại học hàng đầu ở Mỹ và châu Âu. 

Các sách khác của ông còn có. Những nhân viên ngân hàng và Pashas, Cách mạng thời gian: đồng hồ và điều tạo nên thế giới hiện đại, và Prô-mê-tê được tháo xiềng.

Marketing3k trích tóm tắt.

Saturday, August 13, 2011

Edward Bok trở thành người Mỹ

[Marketing4u.vn]Cuối cùng, Bok biết rằng con đường đến thành công thật rộng mở: sự cạnh tranh không đáng kể. Không cần phải giành giật nhau. Thực ra, đi trên con đường đó chỉ hơi cô đơn một chút. Có một người bạn đường đồng hành với mình thì thật tuyệt vời, nhưng những người đó không nhiều! Đó là một trong những điều ngạc nhiên thú vị nhất của Edward Bok, nhưng đó cũng chính là một trong những điều tạo sự kích thích nhiều nhất của ông. Để đi đến nơi mà những người khác không thể đến có một hương vị của sự phiêu lưu.” 

Làm việc cho thành công của chính bạn, nhưng bảo đảm rằng sự thành công của bạn cũng có ích cho cộng đồng

Edward Bok

Vào năm 1870, khi Edward Bok được sáu tuổi thì gia đình ông chuyển đến sống ở New York. Họ sống khá phong lưu ở Hà Lan nhưng đã mất tiền vào các khoản đầu tư không sinh lời và giờ đây phải bắt đầu lại. Câu chuyện của họ điển hình cho hàng triệu người đến nước Mỹ vào thời gian này và việc một trong hai đứa con trai của gia đình vươn lên trở thành nhân vật nổi bật không phải là điều quá đặc biệt. Điều khác thường hơn là anh chàng Bok, mặc dù được đưa vào trường không biết một chữ tiếng Anh đã trở thành một trong những người dẫn đầu tư tưởng của thời ông và mt65 bậc thầy về ngôn ngữ. 

Cuốn sách Edward Bok trở thành người Mỹ: Tự truyện của một chàng trai Hà Lan sau năm mươi năm giành được giải Pulitzer cho mảng tự truyện. Đó không phải là dạng sách “ tôi đã làm điều đó như thế nào”, mà là sự chiêm nghiệm về kinh nghiệm của người di cư và mức độ một đất nước mới hình thành nên một con người. Đó là một cuốn sách về bí quyết thành công bởi vì được viết ở ngôi thứ ba và tác giả cố gắng xác định một cách khách quan điều gì đã làm cho ông trở thành một người thành công. Cũng giống như nhiều dân nhập cư khác, ông thấy rằng sự túng thiếu là một động lực tuyệt vời. Nếu bạn đã đọc nhiều sách về cuộc đời của những nhà đại công nghiệp, có thể bạn sẽ thấy trong câu chuyện vươn lên của Bok trong thế giới có những ngôn từ mới lạ.

Thành công bước đầu 

Ông bà Bok không thích nghi dễ dàng với đất nước mà họ chọn làm nơi để sinh sống. Vì trước đây từng có người hầu kẻ hạ, nên mẹ của Bok không quen gánh vác, lo toan cho gia đình chỉ với ngân sách hạn hẹp, và trong một thời gian cha của Bok không thể tìm được một công việc đàng hoàng. Để kiếm tiền cho gia đình, dấu hiệu đầu tiên thể hiện khiếu kinh doanh của Edward là bán nước và nước chanh cho người đi trên xe điện, và sau đó bắt đầu nghề lau chùi cửa sổ cho một tiệm bánh và phục vụ sau quầy hàng với thu nhập 50 xu một tuần. 

Ông bắt đầu nghề báo bằng việc tham gia các buổi tiệc và viết các bài tả lại buổi tiệc để bán cho các tờ báo. Lúc 13 tuổi, Bok rời trường để đi chạy việc văn phòng cho công ty Western Union Telegraph nơi cha ông từng làm công việc dịch thuật. Lo lắng vì thiếu học vấn và mong muốn trở thành người đàn ông thành công như bao nhiêu người khác, ông để dành tiền mua một cuốn bách khoa từ điển về tiểu sử. Việc mua cuốn sách trở thành cơ sở cho chiến dịch viết thư để xib chữ ký của những người nổi tiếng. Thật đáng kinh ngạc, ông nhận được thư từ của nhiều người có thế lực vào thời đó, trong đó có các tổng thống Garfield và Hayes, các tướng Ulysses S. Grant và William Sherman. Các lá thư này trở nên nổi tiếng trên báo chí và do đó Bok gặp được một vài người mà ông thường trao đổi qua thư từ, bao gồm Hayes, Grant, và bà Abraham Lincoln. Ông cũng mở rộng bộ sưu tập chữ ký sang các nhà văn Mỹ, và cuối cùng ông gặp và kết bạn với Oliver Wendell Holmes và Henry Longfellow. 

Sự dồi dào của thông tin tiểu sử có đầu mối tiêu thụ khi Bok để ý thấy các quân bài có hình những người nổi tiếng trên các gói thuốc lá còn để trống ở mặt sau. Ông liên hệ với người sản xuất và đề nghị cung cấp thông tin về cuộc đời của mỗi người ở phần sau của tấm card. Người sản xuất đồng ý và Bok mời các nhà báo hợp tác để giúp ông viết hàng trăm tiểu sử vắn. Quan trọng hơn cả là việc kinh doanh nhỏ này đã cho phép ông phát triển kỹ năng biên tập. 

Hướng tới thành công 

Khi Bok 18 tuổi thì cha ông qua đời, và để kiếm tiền phụ giúp mẹ, ông bắt đầu sản xuất các chương trình kịch và bán quảng cáo cho chương trình đó. Cơ hội làm biên tập đến với ông từ việc sản xuất tờ tạp chí chuyên đề xã hội Brooklyn, đã có thành công đáng kể. 

Lúc đó ông vẫn còn làm việc ở Western Union, nơi mà sau này bị công ty tài chính nổi tiếng Jay Gould mua lại. Nhờ tự học, Bok đã học viết tốc ký và bắt đầu phụ trách mảng thư tín cho Gould. Ông cũng bắt đầu kinh doanh chứng khoán theo chân Gould. Dù kiếm được khá tiền nhưng đó không phải là nghề của Bok và cưỡng lại lời khuyên của người đàn ông tài ba ấy, ông bỏ công việc ở Gould để theo đuổi giấc mơ làm việc trong lĩnh vực xuất bản với nhà xuất bản Henry Holt. 

Khi rảnh rỗi, Bok nhìn thấy một cơ hội tạo ra một tổ chức công cấp bài viết để bán các mục báo tuần cho các tờ báo khắp nước. Người phụ trách chuyên mục đầu tiên là một người thuyết giáo đáng kính và nhà văn Henry Ward Beecher, sau đó trở thành một cố vấn dày dạn kinh nghiệm và người bạn. Sau đó, Bok mở rộng việc kinh doanh, mở ra “Trang phụ nữ”, cung cấp tư liệu hình ảnh, bài vở cho nhiều tờ báo khác. Bok cũng viết “thư văn chương từ New York” hằng tuần, được bán cho 30 tờ báo. 

Trong công việc hàng ngày, Bok đã bắt đầu làm việc tại nhà xuất bản Scribners’ Sons, bán quảng cáo trong Scribners’ Manazine và thỏa mãn đúng sở thích của Robert Louis Stevenson và Andrew Carnegie. 

Dù cho thế nào đi nữa 

Trong một chương tựa là “Các cơ hội thành công”, Bok đề cập đến sự suy nghĩ thông thường cho rằng thế giới kinh doanh là một khu rừng, ở đó mọi người giành giật nhau các mối lợi và sự thiên vị rất phổ biến. Ông ngạc nhiên thấy rằng sự xuất sắc là cơ sở cho việc tiến xa hơn và thay vì cạnh tranh, làm việc siêng năng và quyết tâm sẽ mang đến thành công. 

Hầu hết những thanh niên ông đã cùng làm việc chỉ than vãn sao họ lại bị trả lương ít vì số lượng công việc họ đã làm. Đến năm giờ, ông không bao giờ thôi ngạc nhiên vì thấy cầu thang máy trong công sở đông nghẹt người! Triết lý của bản thân ông là nếu ông được giao làm một công việc, ông sẽ làm xong việc đó trong ngày ngay cả khi phải ở lại trễ. 

Trong một xã hội mà sự xuất sắc làm chủ, ông thấy bực mình vì sự kém xuất sắc: 

“Ông nhìn lên vị trí đỉnh cao, và thay vì thấy đông nghẹt, ông ngạc nhiên vì thấy ít người đạt đến đỉnh. Vị trí cao thường thách thức con người cố gắng hơn để leo lên tới đỉnh cao của nó.” 

Bởi vì ông đã lấy triết lý rằng một người “sống trong thế giới này có được cái mà anh ta đã lao động mà ra”, ông đã đạt nhiều thành công ở tuổi 25 hơn hẳn so với nhiều người phải làm cả đời. 

Công việc trọn đời 

Vào năm 1889, mặc cho lời khuyên của những đồng nghiệp ở nhà xuất bản Scribners và mẹ của ông, Bok đảm nhiệm vị trí biên tập của tờ Ladies’ Home Journal, một tạp chí với tổng số phát hành gần 440.000 bản. Ông đồng ý làm công việc này không phải bởi vì ông rành mọi thứ về phụ nữ, mà bởi vì ông có thể thấy tiềm năng to lớn của các ấn phẩm về phụ nữ và lượng độc giả nữ. 

Bok muốn tạo ra một cảm giác thân mật và nâng đỡ tâm hồn cho tờ tạp chí kết hợp với những bài viết chất lượng. Với các mục mới và hấp dẫn, hàng trăm ngàn lá thư đã đỗ về tạp chí. Hầu hết đều được hồi đáp và thậm chí là được in lên tạp chí, bởi vì Bok xem công ty không đon thuần chỉ là một tờ báo mà là một “ngân hàng thông tin tuyệt vời.” Sự quan tâm dành cho độc giả đã khiến người đặt báo trung thành vớ tờ báo một cách bất ngờ, và không lâu sau số lượng phát hành đã tăng gấp đôi. Sau khi thêm một vài mục mới, Bok tiếp tục đưa tiểu thuyết của một số nhà văn giỏi nhất thời đó, chẳng hạn như Rudyard Kipling, và những tác phẩm phi tiểu thuyết của những tác giả như Jane Adams và Helen Keller vào mục báo. Điều hoàn toàn mới đối với một tạp chí phụ nữ là đưa vào bài viết của các tổng thống Mỹ, đầu tiên là Benjamin Harrison và sau này là người bạn của Bok, tổng thống Theodore Roosevelt. 

Tại sao tạp chí này lại thành công như vậy? Bok nảy ra ý nghĩ rằng, ngoài việc phục vụ cho nhu cầu giải trí của đa số độc giả với các mục quen thuộc về thời trang và vân vân, ông nhắm đến việc “không ngừng mở rộng phạm vi tạp chí và dần nâng cao chất lượng của nó”. Ông không chỉ “mang lại cho mọi người điều họ muốn” cách làm quen thuộc nếu muốn có thành công trong kinh doanh mà ông cố gắng hướng họ đến một trình độ cao hơn. 

Công chúng Mỹ luôn muốn một điều gì đó tốt hơn một chút so với cái họ yêu cầu, và người thành công, khi đáp ứng nhu cầu đó, là người đã làm theo quy luật vàng này.” 

Về lâu dài, điều này tạo ra sự hài lòng và trung thành lớn hơn. Bok dùng Ladies’ Home Journal không đơn thuần để nâng cao dân trí của độc giả mà còn để cải thiện môi trường sống của họ. Kinh ngạc với mức chuẩn thấp của các căn nhà do không tiền thuê kiến trúc sư, ông hợp tác với một kiến trúc sư để in các bản thiết kế nhà đã hoàn tất có thể được các chủ thầu sử dụng. đây cũng là một thành công rất lớn, và nhà kiến trúc đáng kính Stanford White nói rằng Edward Bok, một nhà biên tập, đã “hoàn toàn ảnh hưởng lên kiến trúc Mỹ hơn bất cứ ai của thệ hệ ông ấy”. Bok tiếp tục bằng việc in các bức hình màu các trang trí nội thất mẫu để tạo cảm hứng cho người trang trí nội thất, và đưa vào tạp chí những hình ảnh đẹp của các bức tranh nổi tiếng mà hàng triệu nhà đều treo. Cũng vào thời gian đó, Journal bắt đầu bán một triệu bản cho mỗi số, một cột mốc cho ngành xuất bản tạp chí. 

Tạp chí của Bok cũng đã gia tăng nhận thức của công chúng về sự phát triển của bảng hiệu quảng cáo, về việc giết chim để lấy lông may áo, và việc làm khô cạn hồ Niagara để phục vụ cho các công ty điện. Bok và người chủ Cyrus Curtis từ chối quảng cáo cho các nhà sản xuất biệt dược do việc pha chế thuốc không có cơ sở khoa học, và góp phần xây dựng luật về thực phẩm và dược phẩm cho nước Mỹ. Sau các bài xã luận kêu gọi giáo dục tình dục để ngăn chặn các loại bệnh tình dục, 75.000 độc giả đã hủy đặt báo nhưng Curtis và Bok vẫn duy trì vì tin rằng đó là việc đúng cần làm. 

Sau khi làm những gì ông có thể để giúp đỡ cuộc chiến tranh của người Mỹ, Bok về hưu với nghề biên tập của tờ Journal, 30 năm sau ngày ông bước vào nghề. Thời điểm ông về hưu, tạp chí bán được 2 triệu bản cho mỗi kỳ, “đó là tài sản quý giá nhất của một tờ tạp chí trên thế giới”. Nó đã trở thành một tổ chức nổi tiếng của quốc gia. 

Khi về hưu, Bok viết nhiều sách hơn và trở thành một người bác ái, tài sản hiến tặng của ông bao gồm 100.000 đôla cho giải thưởng Hòa Bình Mỹ, giải thưởng quảng cáo Harvard; Hội đồng Philadelphia; và giáo sư đại học văn chương ở đại học Princeton. Và tạp chí Ladies’ Home Journal ngày nay vẫn còn được bán. 

Lời bình luận cuối 

Một chàng thanh niên nhập cư người Hà Lan với học vấn thấp đã thành công, ảnh hưởng đến cả một thế hệ nhờ vào phương tiện thông thường nhất, đó là tạp chí dành cho phụ nữ, và câu chuyện của Bok điển hình cho thành công của những di dân. So sánh gần đây nhất cho thành công của Bok có thể là Oprah Winfrey của thời nay. Bà Oprah Winfrey, vào lúc truyền hình ban ngày đang đi xuống đã quyết định khuếch trương các cuốn sách và việc đọc sách. Cũng như Bok, Winfrey không mang lại cho mọi người cái mà họ cần, thay vào đó là một điều gì đó cao hơn. Người như vậy không chỉ bán sản phẩm, họ đáng được tôn trọng và yêu quý. 

Việc Bok về hưu sớm ở tuổi 56 làm mọi người ngạc nhiên, nhưng ông dứt khoát không làm việc đến chết, ông cảm thấy rằng đó là số mệnh cảu quá nhiều đàn ông Mỹ, và ông thức nhận ông vẫn là ”Người châu Âu” bằng việc đưa chất lượng cuộc sống làm ưu tiên hàng đầu. Dù ông cho rằng điều tốt đẹp nhất của đất nước mà ông chọn sống là chủ nghĩa lý tưởng, cái thất bại của nó là trọng số lượng hơn chất lượng. Trong khi một phần con người ông vẫn để ý đến thành công bằng con số, kiến thức và nghệ thuật chính là điều tạo cảm hứng cho ông. 

Bà của Bok đã cho ông một lời khuyên đơn giản: “Hãy làm cho thế giới tốt hơn và đẹp hơn bởi vì có con ở trong đấy”. Chú trọng vào việc gia tăng kiến thức và văn hóa cho người Mỹ, Edward Bok chắc chắn đã làm đúng tiêu chí thành công của bà ông ấy.

Sunday, July 31, 2011

Sự kỳ diệu của niềm tin by Claude M.Bristol

[Marketing4u.vn] Tất cả mọi sự vĩ đại đều bắt đầu bằng một ý nghĩ và được tiếp năng lượng bằng một niềm tin để biến thành hiện thực. 

“Dần dần tới khám phá ra rằng có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi bài học và làm cho nó phát huy tác dụng đối với những ai thành thật chấp nhận và áp dụng chúng, và sợi chỉ đó có thể được gọi bằng một từ duy nhất – “Niềm Tin”. Chính cái yếu tố đó, niềm tin, đã khiến con người đựơc chữa bệnh bằng tinh thần, cho phép người khác trèo lên nấc thang thành công, và gặt hái những kết quả kỳ lạ cho tất cả những ai chấp nhận nó” 

“Không nghi ngờ gì, chúng ta trở thành như những gì chúng ta nhìn dung” 

Claude Bristol là một nhà báo ương ngạnh trong nhiều năm, ông từng là phóng viên cảnh sát và biên tập viên tôn giáo của một tờ báo lớn của thành phố. Trong công việc này, ông gặp những người từ mọi giáo phái, và sau này đọc hàng trăm sách tâm lý, tôn giáo, khoa học, siêu hình học, và phép thần thông của cổ xưa. Dần dần, Bristol bắt đầu thấy “sợi chỉ đỏ” chạy xuyên suốt mọi tôn giáo và những lời dạy bí truyền: bản thân niềm tin có những sức mạnh kỳ diệu.

Trải qua nhiều năm suy nghĩ về sức mạnh của tư duy, ông cho rằng những người khác cũng biết điều đó. Ông đã lầm. Kỳ lạ thay, ông thấy rằng phần lớn người ta sống cả cuộc đời mà không nhận ra niềm tin mạnh mẽ có tác động đến việc đạt được các mục tiêu của họ; họ chỉ có những mong muốn mơ hồ và vì vậy cũng gặt được những kết quả không rõ ràng. 

Khi còn là lính trong Thế Chiến thứ nhất, có lúc Bristol không có lương và thậm chí không có tiền mua thuốc lá. Ông quyết tâm rằng khi giải ngũ, ông sẽ có rất nhiều tiền. Trong đầu ông là cả một sự quả quyết, không phải là một mong ước. Chưa đầy một ngày sau khi ông trở về nhà, một người làm trong ngân hàng liên lạc với ông, người này đã đọc được câư chuyện về ông trên tờ báo địa phương, Bristol được mời làm việc, và dù bắt đầu với một đồng lưong ít ỏi, ông không ngừng đặt trước mặt mình “ một bức tranh trong đầu về sự giàu có”. Trong những lúc yên tĩnh hay khi nói chuyện điện thoại, ông nguệch ngoạc viết các dấu hiệu của đồng đô la lên các mẫu giấy có trên bàn làm việc. Ông cho rằng sự xác định rõ ràng niềm tin quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác mở đường cho sự nghiệp trong ngân hàng đầu tư và kinh doanh vô cùng thành công. 

Bristol đã học được chân lý trong câu nói của triết gia William James, “Niềm tin được chứng minh trong sự việc”. Bởi vì những suy nghĩ lo lắng sợ hãi khiến bạn trải nghiệm tình huống mà bạn không thể ngừng suy nghĩ (kinh thánh Job đã nói “Điều mà tôi sợ nhất lại xảy đến với tôi”), suy nghĩ lạc quan và mong chờ vào điều tốt đẹp nhất chắc chắn sẽ hình thành nên các tình huống thuận lợi. 

Niềm tin và số phận 

Khi còn bé, Napoleon Bonaparte được cho một ngôi sao ngọc bích, cùng với lời tiên tri rằng ngôi sao sẽ mang lại cho ông vận may và giúp ông trở thành Hoàng đế nước Pháp. Napoleon chấp nhận điều đó như một sự thật hiển nhiên, và do đó ông nghĩ rằng sự thăng tiến của ông chắc chắn xảy ra. 

Bristol kể câu chuyện hấp dẫn của Opal Whiteley, con gái của người tiều phu vùng Oregon. Cô tự nghĩ rằng mình là con gái của Henri d’Orleans, một kẻ phản động tuyên bố là Vua của nước Pháp. Một cuốn nhật ký được tuyên bố là do cô viết mô tả về cha mẹ hoàng gia của cô, cho dù hầu hết mọi người tin đó là điều bịa đặt. Tuy nhiên, khi Opal bước vào tuổi hai mươi, cô được đưa đến Ấn Độ, đi trên một xe ngựa theo kiểu vua chúa của Maharaja of Udaipur; cuối cùng giờ đây cô đang sống trong gia đình hoàng gia. Một người đàn ông làm cho tờ báo Oregon Newspaper đã biết Opal khi cô còn nhỏ ghi nhận rằng: “Thật là thần bí, gần như là siêu tự nhiên, cái cách mà tình huống diễn ra như trong kế hoạch của cô ấy.” 

Điều này đã đưa chúng tôi đến với thông điệp lớn nhất của Điều kỳ diệu của niềm tin: hầu như bất kể thứ gì đều có thể là của bạn, và bạn có thể là bất cứ điều gì, nếu bạn có khả năng phát triển “sự biết” về điều đó mà bạn không bao giờ cần phải thắc mắc. Bristol nói về Napoleon và Alexander Đại đế, “Họ trở thành những đàn ông siêu phàm bởi vì họ có những niềm tin lạ thường”. Niềm tin của bạn về chính bản thân bạn và về vị trí của bạn trong thế giới có thể cho rằng đó là yếu tố chính quyết định thành công. 

Kẻ đầy tớ trong tiềm thức 

Bristol nói rằng nếu bạn có thể hiểu được mối quan hệ giữa ý thức và tiềm thức, bạn sẽ hiểu được cốt lõi của sức mạnh niềm tin. Tiềm thức luôn hoạt động để biểu lộ niềm tin và mong muốn sâu sắc nhất của chúng ta. Nó là một đầy tớ trung thành, luôn thay mới, hướng dẫn và tạo cảm hứng, nhưng để có được điều tốt nhất từ tiềm thức cần có sự tôn trọng vào niềm tin, vào điều nó có thể làm. Bởi vì tiềm thức vận hành dưới dạng hình ảnh, cho nên chúng ta cần phải nuôi dưỡng nó bằng sự hình dung trong đầu về điều chúng ta mong muốn. Sau đó, nếu có thể làm sống dậy, hiện thực hóa hình ảnh đã được ấn định trước đó, và cho chúng ta khả năng trực giác về việc cần phải làm, nơi cần đến và người cần gặp. 

Bằng cách này hay cách khác, tiềm thức được kết nối với các phần khác của bộ não chúng ta, và qua luật phóng xạ và luật hấp dẫn, nó có thể hút các sự kiện và con người đến với chúng ta, hỗ trợ chúng ta biến giấc mơ thành hiện thực. Tuy nhiên, nó chỉ có thể làm cho hình ảnh trở nên thật nếu hình ảnh đó rõ ràng và thuyết phục. Vì thế, những hình ảnh về thành công ta hình dung trong đầu để nuôi dưỡng tiềm thức rất quan trọng. Sức mạnh của niềm tin không thề vận hành thật sự để phục vụ cho chúng ta cho đến khi niềm tin trở thành là một phần của chúng ta theo nghĩa đen, đã nằm trong tiềm thức của chúng ta như là một thực tế. 

Thiết lập suy nghĩ và niềm tin 

Bristol lưu ý rằng tất cả những nhà khoa học nổi tiếng về điện Edison, Steinmetz, Tesla, Marconi, đều quan tâm đến thần giao cách cảm. Họ không hề thấy buồn cười khi nghĩ rằng suy nghĩ có thể di chuyển qua không khí, rằng chỉ mỗi suy nghĩ cũng có thể ảnh hưởng lên sự kiện nếu, cũng giống như mọt tín hiệu sóng vô tuyến tốt, nó mạnh mẽ và rõ ràng. 

Bristol mượn ý từ các nguyên tắc Tư Duy Mới để cho rằng có sự thông minh trong tất cả những gì tồn tại trong vũ trụ và chúng ta được kết nối với nhau bởi một loại trí tuệ toàn cầu. Jung có một ý nghĩ tương tự với thuyết “vô thức tập thể” của ông. Sức mạnh của niềm tin là một máy phát tín hiệu đến với vũ trụ từ đó đi vào đầu của những người khác và thậm chí vào những vật vô tri vô giác. Đài phát của bạn càng mạnh thì khả năng thế giới sẽ thu nhận nó và phản hồi lại càng cao. Nhà thiên văn học Sir Arthur Eddington đã nói rằng có thể quy luật tự nhiên của vũ trụ được hình thành từ tư duy của con người, và môn vật lý lượng tử hiện đại cũng không loại trừ điều đó. 

Theo giải thích của Bristol, một người có niềm tin mạnh mẽ sẽ tồn tại với một sự chuyển động nào đó, sự chuyển động này tìm kiếm cái tương tự nó theo hình thức sự việc. Do đó, ông đi đến một kết luận đáng chú ý là chúng ta không đạt được các mục tiêu chỉ bằng các hành động, mà điều đó còn phụ thuộc vào chất lượng và cường độ của niềm tin chúng ta rằng chúng sẽ hoàn thành. 

Sức mạnh của gợi ý 

Bristol cho rằng bùa, phép và các mẫu giấy chúc may mắn không tự mang đến điều may mắn, mà chính niềm tin vào hiệu nghiệm của nó mới có tác động mạnh mẽ. Tại sao người ta lại tụng kinh, lặp đi lặp lại các lời khẳng định, đánh trống, hay đếm các chuỗi hạt? Sự lặp đi lặp lại là một cách để khắc sâu các gợi ý vào trong đầu óc của chúng ta, “một phép lạ” cho phép chúng ta biến một điều ước thành một điều chúng ta hằng mong đợi. Bằng cách làm cho nó trở thành chính thức, cho nó một cấu trúc, ý nghĩ sẽ biến đổi từ một điều ước đơn thuần thành một hiện thực sắp sửa xảy ra. Chúng ta cám ơn những gì đang hiện hữu hay sắp sửa xảy ra. Bristol nói, “sức mạnh cực kỳ to lớn của sự lặp đi lặp lại tư tưởng” đầu tiên vượt qua lý lẽ thông qua tác động lên cảm xúc của chúng ta và thâm nhập vào tiềm thức, mà ở đấy vấn đề chỉ là thời gian trước khi ý nghĩ ấy diễn ra trong thực tế. Điều này hẳn nhiên là nguyên tắc đằng sau các chiến dịch tuyên truyền và quảng cáo đã thu được thành công. 

Bristol cũng cảnh báo về sự lạm dụng của kỹ thuật tinh thần đi kèm niềm tin mạnh mẽ và gợi ý: đó là một sức mạnh cần được sử dụng một cách có ích chứ không phải để khống chế. Cuốn sách của ông được dành cho “ những người suy nghĩ độc lập của mọi thời đại” mong muốn dùng niềm tin vào mục đích sáng tạo, vì cuộc sống. Ông nói nhiều về sức mạnh của niềm tin trong việc hàn gắn vết thương thể xác. 

Lời bình cuối 

Maxwell Maltz, tác giả cuốn “Tâm Lý Điều Khiển Học” (Psycho-Cybernetics) nói “ Quy luật trí tuệ là quy luật của niềm tin.” Ý ông muốn nói rằng niềm tin, hơn bất cứ thứ gì, điều khiển chúng ta hành động như thế. Đó chính là thợ nặn tạo nên con người chúng ta. 

Hãy thử nghĩ đến hệ thống niềm tin chính trong lịch sử. Dù tốt hay xấu, các hệ thống tư tưởng này đã trở thành niềm tin và tạo nên thế giới chúng ta đang sống. Niềm tin về chính bản thân bạn có đủ mạnh để thay đổi thế giới của bạn hay không? 

Cuốn Sự Kỳ Diệu của niềm tin lặp đi lặp lại và dài lê thê, các ví dụ thì lỗi thời, các lời khuyên cụ thể để áp dụng các ý của nó không nhiều, và bạn có thể sẽ phải thốt lên rằng, “Đi thẳng vào vấn đề đi”. Một số đọc giả cũng bị lệch hướng bởi tính phi khoa học của cuốn sách. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là nó có thể cho thấy nhiều điều khi đọc lần hai, ba hay bốn. Bristol biết rằng, rốt cuộc, các sách viết về bí truyền cổ xưa thường cố tình viết không rõ ràng để che đậy bí mật đối với những người không thạo hay những người lạm dụng chúng. Có thể bạn không thích đọc sách này, nhưng chỉ cần có nó cũng có thể nhắc nhở bạn về sức mạnh của niềm tin. 

Cũng có thể khó mà tiêu hóa một vài “tư tưởng”, như từ của tác giả dùng. Ngay chính ông cũng hoài nghi, nhưng rồi nhận ra rằng tất cả chúng ta đều nghĩ đến sự kỳ diệu của niềm tin khi chúng ta nhất định muốn điều gì đó trở thành hiện thực. Nghệ sĩ dương cầm Liberace được cho là đã thay đổi cuộc đời mình sau khi đọc Sự kỳ diệu của niềm tin. Và trong chương về “Phụ nữ và khoa học niềm tin.” Bristol nhắc đến tên của Marie Curie, Mary Baker Eddy (sáng lập ra khoa học Cơ Đốc), Florence Nightingale, Harriet Beecher Stowe (tác giả của truyện Túp lều bác Tom), và nữ diễn viên Angela Lansbury là những ví dụ của người dựa vào sức mạnh của niềm tin để đạt được những điều kỳ diệu. Lansbury trả lời phỏng vấn rằng: “Khi các bạn học được cách làm thế nào để dẫn đến sức mạnh tiềm thức của bạn, thật sự không còn giới hạn cho điều bạn muốn đạt được”. Sức mạnh tinh thần của những phụ nữ này thật to lớn, nhưng chúng ta có thể phát triển “niềm tin thông minh” tương tự như họ vào cuộc sống của chúng ta. 

Sơ lược về tác giả: Claude M. Bristol 

Sinh năm 1891, Bristol phục vụ quân đội trong Thế Chiến thứ nhất ở Pháp và Đức. Ông làm việc cho tờ báo quân đội Stars anh Stripes đến năm 1919. 

Bristol kể rằng Sự kỳ diệu của niềm tin được viết cho những người đàn ông xuất ngũ và phụ nữ phải thích nghi trở lại cuộc sống dân sự và cố gắng làm ăn phát đạt. Cuốn sách được xuất bản khi ông bước vào tuổi năm mươi và theo sau thành công của cuốn sách bỏ túi TNT: It Rocks the Earth. 

Bristol là một phát ngôn viên được nhiều người biết đến tại các câu lạc bộ, tổ chức kinh doanh và doanh nhân. Ông mất năm 1951.


Các sách cùng chủ đề:
  • Joseph Murphy - "Sức mạnh của tiềm thức"

  • Florence Scovel Shinn - "Cánh cửa bí mật tới thành công"

  • David J. Schwartz - "Sự kỳ diệu của nghĩ lớn"

  • Wallace D. Wattles - "Khoa học làm giàu"