Tuesday, June 4, 2013

Làm thế nào để mua nhà khi mức lương 3-4 triệu?

Ảnh minh họa - Thu nhap thap va chung cuTiếp thị bất động sảnLiệu rằng người thu nhập thấp với mức lương trung bình 3-4 triệu đồng/tháng thì có đủ khả năng mua nhà và để an cư không?

Trả lời câu hỏi nói trên, VEF.vn đăng phản hồi của độc giả Mai Sỹ Xuân Lâm về nỗi băn khoăn của cá nhân anh cũng như hàng triệu công nhân viên chức, những người làm công ăn lương mà thu nhập vẻn vẹn vài ba triệu đồng/tháng. Từ đó, tác giả đã đưa ra giải pháp cho vấn đề này. Dưới đây là nội dung bài viết (tít phụ do nguoiduatin đặt).

Cần quy hoạch lại đối tượng cho vay

Hiện đang tồn tại thực trạng: Có rất nhiều gia đình đông người nhưng lại không sở hữu được nhà ở. Họ phải sống trong tình cảnh thuê mướn nhà và không có sổ hộ khẩu. Đồng thời, cũng cần phải khảo sát lại vấn đề nhu cầu nhà ở của xã hội, liệu rằng người thu nhập thấp với mức lương trung bình 3-4 triệu đồng/tháng thì có đủ khả năng mua nhà và để an cư không?

Thực tế tại các khu nhà trọ cho thấy, người thu nhập thấp đang thuê những căn nhà nhỏ nhỏ - được gọi là phòng trọ - diện tích mặt sàn không vượt quá 20m2, có thêm một căn gác như vậy thì tổng diện tích cũng không quá 40m2, nhưng một căn phòng như vậy có thể ở từ 3-4 người. Trung bình là 3 người, có thể là 3 sinh viên, có thể là một gia đình nhỏ có 3 người, hoặc 3 người lao động góp tiền thuê nhà ở chung,..v.v... Giá thuê trung bình một căn như vậy - tùy theo nội thành hay ngoại thành - giá thuê từ 1,5 - 3 triệu đồng/tháng, chưa kể chi phí điện nước.

Điều này phản ánh thực trạng người thu nhập thấp không có nhu cầu phải sống trong một căn hộ quá to, có tổng diện tích sử dụng trên 60m2, với giá bán trên 10 triệu đồng/m2 như những căn hộ chung cư hay nhà xã hội hiện có.

Vậy với gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng, Chính phủ và Nhà nước cần phải sử dụng để hỗ trợ như thế nào cho sát với thực tế của người nghèo, hay còn gọi là người có thu nhập thấp từ 2-7 triệu đồng/tháng?

Theo quy định về cách sử dụng gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng, nhà nước sẽ hỗ trợ cho người có thu nhập thấp vay vốn mua nhà với tổng diện tích sử dụng không quá 70m2, và giá không vượt quá 15 triệu đồng/m2, như vậy tính trung bình một căn hộ với tổng diện tích sử dụng là 65m2, và giá bán là 14 triệu đồng/m2, thì giá trị căn hộ đó tương đương 910 triệu đồng/căn.

Với lãi suất vay là 6% và thời hạn vay trong vòng 10 năm, tức là người thu nhập thấp mang nợ thêm 54 triệu/năm, số nợ mỗi năm sẽ giảm dần. Như vậy trung bình người dân có thu nhập thấp phải trả nợ góp hàng tháng trên 11 triệu đồng/tháng.

Với người thu nhập thấp 3-4 triệu đồng/tháng thì gia đình đó cần phải có đến 5 người cùng sống trong một nhà mới đủ khả năng trả góp và trang trải chi phí sinh hoạt. Nhưng điều phi lý lớn nhất ở đây là chủ sở hữu đứng tên thì lại chỉ có thể là 1 người mà thôi. Nếu sau 10 năm, những người này có lập gia đình riêng hay bán nhà thì cũng sẽ khó chia tài sản cho hợp lý.

Mặt khác, với việc được vay trung bình là 1 tỷ đồng/căn hộ cho 4 người, thì gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng cũng chỉ hỗ trợ được tối đa 30.000 căn hộ và tối đa 150.000 nhân khẩu được an cư. Đây là những con số cho thấy sự bất cập và bất hợp lý so với thực tế gọi là người có thu nhập thấp.

Vậy, để gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng này trở nên hợp lý thì Chính phủ và nhà nước cần phải quy hoạch lại đúng đối tượng và đúng nhu cầu thực tế của người dân.

Nên cho hộ thu nhập thấp vay 300 triệu đồng

Hình minh họa - Chung cưNhư dẫn chứng bên trên, người có thu nhập thấp hiện nay phải thuê phòng trọ có tổng diện tích sử dụng không quá 40m2 nhưng họ vẫn sống được tối thiểu 3 nhân khẩu.

Với diện tích mặt sàn tầng trệt 3m x 7m = 21m2, thêm một tầng lầu với diện tích tương tự, tổng diện tích sử dụng là 42m2, và mái bằng 1/3 diện tích mặt sàn tương đương 7m2. Với giá xây dựng trung bình 4 triệu/m2, cho thấy một căn nhà gồm có tầng trệt + 1 lầu với tổng diện tích sử dụng là 42m2 có giá thành xây dựng tương đương 49 x 4 triệu = 196.000.000 đồng.! Đủ cho 3 nhân khẩu có thể sống.

Như vậy, để kích cầu thị trường bất động sản, chính phủ cần đi sát thực tế với người thu nhập thấp về nhu cầu nhà ở. Với chi phí xây dựng trung bình 200 triệu đồng cho một căn nhà có tổng diện tích sử dụng là 42m2, đáp ứng đủ cho 3 nhân khẩu, chính phủ và nhà nước cần đưa ra những chính sách quy hoạch đất sử dụng một cách hợp lý.

Ví dụ, Chính phủ sẽ quy hoạch thành lập những khu dân cư AN CƯ dành cho người thu nhập thấp, trong đó mặt bằng nhà được quy hoạch không quá 25 m2/nền nhà: 3m x 7m, hoặc 4m x 6m, hoặc 3m x 8m.

Chính phủ có thể bán đất với giá rẻ từ 1,5-4 triệu đồng/m2, tương đương từ 32-84 triệu đồng/nền nhà. Hoặc nhà nước cho thuê đất sử dụng tối đa 400.000 đồng/tháng/nền và không quá 30 năm.

Với gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng, Chính phủ có thể chia nhỏ và cho vay tối đa 300 triệu đồng/hộ dân (tối đa 3 nhân khẩu) để xây nhà nhỏ cho người có thu nhập thấp. Như vậy với gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng chính phủ có thể giúp cho 100.000 hộ dân, tương đương 300.000 nhân khẩu được AN CƯ và có hộ khẩu.

Với vốn vay 300 triệu đồng/hộ và lãi suất hỗ trợ 6%/năm, tổng dư nợ và lãi phải trả giảm theo hàng năm, trung bình người vay sẽ phải trả góp hàng tháng là 3,33 triệu đồng mỗi tháng trong suốt 10 năm. Như thế là phù hợp với nhu cầu thực tế của người thu nhập thấp, để giúp người thu nhập thấp có được điều kiện mua nhà để AN CƯ. Từ đó cũng sẽ giải quyết việc làm trung bình cho hàng trăm ngàn lao động, kích cầu kinh tế về vật liệu xây dựng, thép xây dựng, trang trí nội - ngoại thất và thúc đẩy vực dậy những lợi ích kinh tế phụ trợ đi kèm.

Mặt khác, hàng tháng trung bình 100.000 hộ dân này sẽ phải trả góp số tiền là 3,33 triệu/hộ, tương đương 332,5 tỷ đồng mỗi tháng có thể giải quyết tiếp cho thêm 1.108 hộ dân khác được tiếp tục vay vốn định cư.

Với số vốn 30.000 tỷ đồng ban đầu này, sau 10 năm có thể giải quyết cho trên 23.000 hộ dân nghèo thu nhập thấp được an cư!

Với mức trả góp trung bình hàng tháng tương đương 3,33 triệu đồng/căn hộ với tổng diện tích sử dụng là 42m2 như tính toán kể trên, người thu nhập thấp sẽ có được nhà chính chủ để ở, thay vì cũng với số tiền ấy họ chỉ đủ để thuê một căn nhà mà sau 10 năm sau vẫn không thể là chủ sở hữu và cũng không có sộ hộ khẩu!

Là một người thu nhập thấp trung bình 7 triệu đồng/tháng, tôi cũng rất mong được chính phủ và nhà nước hỗ trợ gói cứu trợ tối thiểu 300 triệu đồng để tôi có thể sở hữu một căn nhà 2 tầng (1 trệt + 1 lầu), với tổng diện tích sử dụng chỉ cần 42m2 là đủ cho nhu cầu của tôi. Song song đó, nếu được hỗ trợ thêm chính sách về đất nền bán hoặc cho thuê với giá rẻ thì càng tốt.

Tin bài khác:

Monday, June 3, 2013

Kinh tế Việt Nam: Nếu không thay đổi, vốn vào Việt Nam sẽ còn giảm nữa

Tài chính marketing - Tại sao ngày càng ít nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tư vào Việt Nam? Chính phủ Việt Nam sẽ làm gì để cải thiện nguồn vốn này?

Những câu hỏi, sự băn khoăn của các đại biểu quốc tế nêu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam giữa kỳ (VBF 2013) vừa tổ chức tại Hà Nội sáng 3/6. Đây là hình thức mới lần đầu tiên được tổ chức của Hội nghị Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (Hội nghị CG) trước đây.

Không thay đổi sẽ còn tệ hơn

Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Australia tại Việt Nam, ông Brian O'Reilly, nêu câu hỏi: Tại sao ngày càng ít nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam? Chính phủ Việt Nam sẽ làm gì để cải thiện nguồn vốn này?

Theo ông Brian O'Reilly, các nước ASEAN khác như Indonesia, Thái Lan, Campuchia và Myanmar giờ đã nổi lên như những điểm đến đầu tư hấp dẫn. Vì vậy, ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu cũng có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tuy nhiên, vốn FDI toàn cầu đã tăng lên trong vài năm qua.

‘Nếu Việt Nam không tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi hơn, thì nguồn FDI có thể tiếp tục giảm’ ông Brian O'Reilly nói.

Ở góc độ trong nước, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhìn nhận sự cố gắng của Chính phủ.

Cụ thể, Chính phủ nghiên cứu, tiếp thu như việc trình Quốc hội giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thực hiện giảm lãi suất tín dụng và bố trí 30.000 tỷ đồng hỗ trợ thị trường bất động sản; điều chỉnh mức tăng lương tối thiểu và thành lập Hội đồng tiền lương quốc gia..., song Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tiếp tục đưa ra nhiều kiến nghị cụ thể với Chính phủ.

Theo đó, cộng đồng doanh nghiệp mong muốn Chính phủ kiên định đối với các mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tăng trưởng ở mức hợp lý, tỉnh táo trước những sức ép về tăng trưởng nhanh trước mắt, song không bền vững.

Theo ông Lộc, những điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua “chủ yếu đến từ những vấn đề nội tại”, ông Vũ Tiến Lộc đề xuất: “Chính phủ cần ưu tiên cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chứ không bị cuốn vào các giải pháp ngắn hạn”. 

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cũng khẩn thiết: ‘vẫn còn nhiều khó khăn thách thức. Đầu tư trong nước chưa cao, tồn kho cao, khả năng cạnh tranh thấp, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động còn lớn... Các khó khăn thách thức còn ở phía trước. Chính phủ cần sự ủng hộ của doanh nghiệp trong tiến trình cải cách’.

Cần thiết lập sân chơi bình đẳng

Ông Mark Gillin- Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) cũng nhấn mạnh về vai trò của doanh nghiệp tư nhân. Khuyến nghị về khối doanh nghiệp này nằm vị trí đầu tiên trong 4 bài học khuyến nghị đối với Việt Nam thể hiện tầm quan trọng của doanh nghiệp tư nhân trong bối cảnh công cuộc “Đổi mới 2” của Việt Nam.

Theo đó, Mark Gillin cho rằng, cần thiết lập một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân này phát triển. AmCham không mong muốn doanh nghiệp tư nhân kém hơn các khối doanh nghiệp khác.

Ông Mark Gillin nhấn mạnh, đã đến lúc Việt nam phải tiến lên với những cải cách cần thiết để tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn. ‘Hiện tại, còn quá nhiều cải cách cơ bản chưa được thực hiện hóa vì thế nền kinh tế đang phải gánh chịu’, ông Mark Gillin nói.

“Việt Nam cần có những hành động sau khi thảo luận quá lâu, thay đổi tích cực và cải cách sẽ mang lại niềm tin. Với vòng quay đổi mới sau đổi mới 2 sẽ mang lại cơ hội mới cho doanh nghiệp tư nhân. Đổi mới sẽ mang lại sức sống mới cho Việt Nam” - ông Mark Gillin chia sẻ.

Đại diện cho các nhà nhà đầu tư nước ngoài, ông Kim Jung In, Chủ tịch Korcham (Phòng Thương mại Hàn Quốc) cho rằng, Chính phủ cần tiếp tục xúc tiến quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với những biện pháp quyết liệt. Đặc biệt, vì nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần của DNNN, nên quá trình này cần phải rõ ràng, minh bạch để thúc đẩy các giao dịch mua bán, sáp nhập.

Đại diện Korcham phát biểu: “Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần tiến hành tái cơ cấu ngành ngân hàng theo lộ trình, để tránh việc các ngân hàng thương mại trong nước rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tái cơ cấu DNNN và ngành ngân hàng phải được đồng thời thực hiện”.

Lắng nghe các ý kiến, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khẳng định, Chính phủ Việt Nam đã tiếp thu các ý kiến chính đáng, xây dựng của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, đã và đang triển khai các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vượt qua khó khăn thách thức.

Trên tinh thần tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, Phó Thủ tướng tin tưởng rằng, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp sẽ được tiếp tục thực hiện có kết quả.

‘Chính phủ Việt Nam luôn lắng nghe, chia sẻ, tiếp thu các ý kiến đóng góp xác đáng của các doanh nghiệp để tiếp tục có chính sách và giải pháp phù hợp’ phó Thủ tướng nói.

Bích Ngọc - Đatviet (Tổng hợp VOV, SGTT, SGGP)

Tin bài khác:

Sunday, June 2, 2013

Kinh tế Việt Nam: Vượt qua suy thoái

Tài chính marketing - Các chỉ số kinh tế được công bố trong những tháng đầu năm 2013 cho thấy những dự báo về một năm 2013 khó khăn hơn đang dần trở nên hiện thực. Số doanh nghiệp giải thể trong ba tháng đầu năm 2013 lên đến trên 15.300 doanh nghiệp, và theo nhận định của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, con số doanh nghiệp “chết” trong thời gian qua trên thực tế có thể đến con số một trăm ngàn, trong khi có đến 69% doanh nghiệp đang hoạt động không có lãi. Doanh nghiệp phá sản kéo theo tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

Thống kê năm 2012 cho thấy trong chín tháng của năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực đô thị là 3,3%, tại nông thôn là 1,42%, đưa con số lao động muốn làm việc nhưng không có công ăn việc làm – và không có thu nhập – lên đến trên 2 triệu người, chưa kể số lượng lao động thất nghiệp trá hình chỉ có việc làm tạm bợ và thu nhập cực kỳ thấp.

TP.HCM có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong khu vực đô thị (3,92%), Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong khu vực nông thôn (4,6%). Sang năm 2013, tình trạng thất nghiệp chưa có dấu hiệu cải thiện. Thất nghiệp tăng, triển vọng kinh tếảm đạm khiến người dân phải tự thắt lưng buộc bụng, giảm chi tiêu.

Tổng cầu xã hội giảm, sức mua giảm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm rõ rệt. Trong ba tháng 3, 4, 5 của năm 2013, chỉ số giá tiêu dùng của TP. Hồ Chí Minh liên tục giảm, bình quân giảm 0,26%/tháng.

Sức mua toàn xã hội giảm, hàng hóa không tiêu thụ được khiến cho tồn kho hàng hóa các doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, sa thải lao động, đưa nền kinh tế rơi vào vòng xoáy suy thoái đáng báo động.

Cho đến cuối tháng 4/2013, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp xây dựng, một ngành công nghiệp dẫn đầu trong tăng trưởng kinh tế, tiếp tục bị lao đao vì sản phẩm tồn đọng: giá trị tồn kho thép tại các doanh nghiệp lên đến trên 9 ngàn tỉ đồng, tồn kho gạch trên 3 ngàn tỉ đồng, tồn kho xi măng của riêng Tổng công ty Công nghiệp xi măng là 1,38 triệu tấn.

Điều may mắn là tình hình kinh tế khó khăn đang được công khai thừa nhận bởi Quốc hội, Chính phủ và được truyền thông rộng rãi, cho thấy đã có một quyết tâm chính trị cao trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp thích hợp đưa nền kinh tế vượt qua vũng lầy suy thoái, một quyết tâm tuy khá chậm nhưng có còn hơn không. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải trả một cái giá nhất định cho sự chậm trễ.

Những liều thuốc cần thiết, lẽ ra đã có thể hiệu nghiệm nếu được sử dụng sớm, thì nay đã không còn tác dụng như mong đợi. Chẳng hạn, biện pháp giảm lãi suất để hỗ trợ nguồn tín dụng giá thấp cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – nhất là các doanh nghiệp tư doanh – nếu được triển khai ngay từ năm 2010 theo gương của Ngân hàng Trung ương các nước trong khu vực và các nước công nghiệp phát triển trong sách lược đối phó với khủng hoảng kinh tế, đã có thể ngăn chặn được sự đổ vỡ hàng loạt doanh nghiệp trong khu vực tư và đã không đưa nền kinh tế lún sâu vào suy thoái kéo dài.

Hiện nay, biện pháp giảm lãi suất và cởi mở tín dụng đã không còn tác dụng nhiều nữa trong việc hỗ trợ doanh nghiệp và kích cầu tiêu dùng, khi quá nhiều doanh nghiệp đã phá sản hoặc đang hấp hối và số lao động mất việc gia tăng.

Trong năm tháng đầu năm 2013, tín dụng trong hệ thống ngân hàng chỉ tăng hơn 2%, cho thấy chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng do Ngân hàng Nhà nước đề ra trong năm 2013 là 12% là rất khó đạt được.

Không phải doanh nghiệp của chúng ta không cần vốn, nhưng họ đang trong tình trạng không còn khả năng hấp thu đồng vốn, giống như một bệnh nhân đường ruột.

Nợ xấu doanh nghiệp tăng cao đặt họ vào hoàn cảnh pháp lý không thể tiếp cận nguồn vốn mà họ cần để qua cơn hoạn nạn, mặt khác họ cũng không đủ sức thuyết phục các ngân hàng tin rằng sẽ có thể cùng họ vượt qua vực thẳm mà không bị kéo xuống theo.

Đối với những doanh nghiệp còn hoạt động, xu hướng “co cụm” hoạt động sản xuất kinh doanh để giữ an toàn trở thành chiến lược phòng thân khôn ngoan trong thời điểm khó khăn, khiến cho nhu cầu vay vốn ngân hàng giảm hẳn.

Bên cạnh đó, tuy lãi suất huy động đang giảm dần, lượng tiền gởi tiết kiệm của khu vực hộ gia đình vẫn tiếp tục gia tăng cho thấy tâm lý tiết kiệm phòng xa đang tăng lên trong đại bộ phận người tiêu dùng.

Toàn xã hội đang bị tác động bởi kỳ vọng suy thoái, một kỳ vọng sẽảnh hưởng tiêu cực đến các biện pháp kinh tế vĩ mô được đề ra nhằm phục hồi tăng trưởng.

Thêm vào đó, nỗi e sợ thâm căn cố đế về bóng ma lạm phát vẫn còn vương vấn trong đầu những nhà lãnh đạo tiền tệ, càng khiến cho các biện pháp tiền tệ vốn dĩ rất dè dặt và thận trọng sẽ dễ dàng trở thành nửa vời và không phát huy tác dụng, nhất là đối với những biện pháp có thể dẫn đến việc làm tăng cung tiền, như mua lại các tài sản thế chấp của các khoản nợ xấu tại các ngân hàng thương mại, thúc đẩy tăng trưởng nguồn cung tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại qua việc Ngân hàng Nhà nước tái chiết khấu, cho vay lại…, dù rằng đó là những biện pháp hết sức cần thiết.

Cần vượt qua tâm thế này để xây dựng một chính sách tiền tệ năng động hơn, tích cực hơn qua việc giảm sâu hơn lãi suất cơ bản, mở ra các chương trình tài trợ xuất khẩu, tài trợ công nghiệp then chốt, tài trợ nông ngư nghiệp với lãi suất ưu đãi.

Cấu trúc lại các khoản nợ của doanh nghiệp, giãn nợ, hoãn nợ, giảm lãi… cho những doanh nghiệp còn có thể tiếp tục hoạt động, xử lý các doanh nghiệp vô phương cứu chữa… là những biện pháp cần làm ngay để mở ra con đường sáng sủa, lành mạnh hơn.

Cần thấy rằng, chỉ tiêu kế hoạch tăng khối tiền tệ trong năm 2013 là 14% đến 16% so 2012 không phải là lớn và sẽ không tạo áp lực lạm phát, vì trong điều kiện kinh tế suy thoái, vòng quay thu nhập của tiền tệ chắc chắn giảm đáng kể, thể hiện qua các tín hiệu rõ rệt như sức mua giảm, tồn kho hàng hóa tăng, khiến cho cung tiền dù có tăng, tăng trưởng vẫn thấp và chỉ số giá tiêu dùng sẽ tăng không đáng kể trong năm 2013. 

Tuy nhiên, chỉ riêng các biện pháp tiền tệ không thể tạo được tác động đòn bẩy mạnh mẽ cho sự phục hồi nền kinh tế, cần phải có sự hợp đồng với chính sách thuế và tài khóa mới có thể hoàn thành trọng trách này.

Trong những ngày gần đây, giải pháp giảm thuế để vực dậy doanh nghiệp đang được nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị. Nhưng trong điều kiện suy thoái kéo dài, giảm thuế chỉ có tác dụng như một liều thuốc bổ, không phải là liều thuốc trị.

Khi có đến 69% số doanh nghiệp hoạt động không có lãi và phần lớn doanh nghiệp thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, việc giảm tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng mang tính chất an ủi nhiều hơn là khuyến khích, chưa thể tạo ra động lực.

Hiển nhiên là trong lâu dài, một chính sách thuế khoan dưỡng sức dân cùng với việc giảm chi phí vay ngân hàng qua việc giảm lãi suất tín dụng sẽ giúp rất nhiều cho doanh nghiệp Việt Nam giảm chi phí tài chính, giảm giá thành và củng cố năng lực cạnh tranh của họ trên thị trường nội địa cũng như quốc tế. Nhưng trong tình hình suy thoái kinh tế hiện nay, cần có những giải pháp mạnh mẽ hơn, với những liều thuốc có liều lượng cao hơn.

Chẳng hạn, cần phải chấp nhận một mức thâm hụt ngân sách lớn hơn trong năm 2013 so với mức kế hoạch hiện nay là 4,8% GDP để thực hiện kích thích tài khóa (Fiscal Stimulus) qua việc tăng đầu tư công, hoàn tất những dự án đầu tư hạ tầng còn dang dở vì thiếu kinh phí.

Đầu tư công, tốt nhất là cho các dự án phát triển hạ tầng, vào thời điểm hiện nay sẽ có tác dụng như một đầu tàu lôi kéo sự hồi phục của các ngành kinh tế khác. Đây là giải pháp cấp bách cần thiết của năm 2013 và có thể cả năm 2014 nhằm vượt qua suy thoái.

Tại hội thảo “Lạm phát và tăng trưởng kinh tếở Việt Nam” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 21/5, lần đầu tiên một báo cáo nghiên cứu của Học viện Chính sách và Phát triển đã thừa nhận rằng muốn tăng trưởng cao, phải chấp nhận lạm phát ở mức nhất định, chứ không thể tăng trưởng cao, lạm phát thấp như mong muốn khó đạt của những người hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô nước ta từ trước đến nay.

Vấn đề thiết yếu của nền kinh tế Việt Nam hiện nay không chỉ là sự chọn lựa giữa lạm phát và tăng trưởng mà là sự chọn lựa còn thiết thân hơn, sống còn hơn, giữa một bên là sự bảo vệ duy ý chí những chỉ số thống kê kế hoạch vô cảm như chỉ số giá tiêu dùng CPI và một bên là công ăn việc làm, là cuộc sống của người lao động từ thành thị đến nông thôn, là sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, trụ cột của nền kinh tế đất nước.

Ưu tiên ở đâu đã thấy rõ. Sự chọn lựa nào sẽ đạt được đồng thuận xã hội cao cũng đã thấy rõ. Trên hết, phải có một quyết tâm chính trị mạnh mẽ, một tinh thần trách nhiệm cao để thực hiện những hành động cần thiết vì lợi ích toàn cục của nền kinh tế quốc dân, của cộng đồng dân tộc.


Tin bài khác:

Thursday, May 30, 2013

Kinh tế Việt Nam: “Điều hành kinh tế như đang trên dây”

Ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hộiTài chính marketing - “Nền kinh tế đang rất khó khăn nên việc điều hành kinh tế lúc này như đang “trên dây”, làm sao phải giữ được sự thăng bằng giữa tăng trưởng và lạm phát thì mới có thể đi hết chặng đường năm 2013”, ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nêu quan điểm.

Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, nhiều đại biểu đều thể hiện sự “sốt ruột” về sự trì trệ của nền kinh tế và theo họ, đã đến lúc không cần phải quá lo cho lạm phát để tập trung cho tăng trưởng. Xin cho biết quan điểm của ông?

Tôi cho rằng lúc này chúng ta đừng nghiêng về một phía nào cả.

Nền kinh tế đang rất khó khăn, nên việc điều hành kinh tế lúc này như đang “trên dây”, làm sao phải giữ được sự thăng bằng giữa tăng trưởng và lạm phát thì mới có thể đi hết chặng đường năm 2013. 

Nếu chúng ta sốt ruột nên nghiêng về tăng trưởng kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến lạm phát hoặc ngược lại, chỉ tập trung vào kiềm chế lạm phát mà không nghĩ đến tăng trưởng kinh tế thì đều không ổn. Quan trọng là phải giữ được cân bằng.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta phải chấp nhận một mức lạm phát có thể tương đương như năm 2012 để có thể đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2012.

" Cần phải đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đầu, phải chặn lại tốc độ lạm phát. Tuy nhiên, đây là câu chuyện phải làm từ từ, chứ cũng không nên quá đột ngột như thời gian qua." - Phùng Quốc Hiển

Tôi cho rằng trong điều kiện hiện nay, chúng ta khó có thể kỳ vọng đạt được mục tiêu Quốc hội đã thông qua là GDP tăng 5,5%, một mức khả thi có thể đạt được là tăng khoảng 5,2%.

Đại biểu Quốc hội cũng còn cho rằng việc điều hành lạm phát như năm 2012 và 5 tháng đầu năm nay không còn là thành tích vì thực chất, chỉ vì người dân quá thắt lưng buộc bụng nên CPI không thể nhích lên?

Vấn đề này cũng nên được xem xét một cách công bằng hơn, nếu nói hoàn toàn lạm phát thời gian qua không có công sức điều hành của Chính phủ thì cũng không hẳn, nhưng cũng không hoàn toàn do điều hành tốt nên lạm phát giảm. 

Những tháng gần đây, CPI của cả nước cũng như tại những thành phố lớn đều có xu hướng giảm. Trong trường hợp này, CPI giảm một mặt phản ánh rằng chúng ta đã kiềm chế tốt lạm phát, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự suy giảm về sức mua của nền kinh tế.

Về mục tiêu kiềm chế lạm phát của năm ngoái và năm nay, Quốc hội đặt ra mục tiêu lạm phát dưới một con số trên cơ sở phân tích rằng, nền kinh tế của nước ta do lạm phát luôn ở mức cao, có nhiều bong bóng trong các lĩnh vực như tài chính, chứng khoán, bất động sản... làm kinh tế vĩ mô bất ổn. 

Vì vậy, cần phải đặt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đầu, phải chặn lại tốc độ lạm phát. Tuy nhiên, đây là câu chuyện phải làm từ từ, chứ cũng không nên quá đột ngột như thời gian qua. Năm 2012, CPI chỉ tăng 6,81%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 18,13% của năm 2011. Nền kinh tế đang lạm phát cao mà chặn lại xuống còn 6,81% cũng không phải là một sự thành công.

Chính phủ hiện cũng đang tỏ ra hết sức nỗ lực và tích cực để thúc đẩy tăng trưởng, thông qua việc đưa ra hàng loạt các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng gần như giải pháp nào, cũng đều bị “chê”. Vậy theo ông, việc cứu doanh nghiệp cần làm thế nào cho thực sự hiệu quả?

Theo tôi, muốn các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp thực sự hiệu quả, thì phải hiểu đúng được đâu là thứ doanh nghiệp cần. Hiện, có ba thứ doanh nghiệp đang rất cần. Đó là vốn - được coi như “máu” của doanh nghiệp. Nguồn vốn của doanh nghiệp hiện nay chủ yếu dựa vào tín dụng của ngân hàng, Nhưng nguồn vốn tín dụng đang bị một điểm nghẽn là nợ xấu, được ví như cục máu đông. 

Vậy thì Chính phủ phải làm sao định hướng ngân hàng “giải phẫu” cục máu đông này: có phân loại, có những khoản phải khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí có những khoản phải chấp nhận gạt sang một bên để tiếp tục cho doanh nghiệp có khả năng phát triển vay vốn. 

Ngân hàng cần đặt mục tiêu: cứu doanh nghiệp cũng như cứu mình thì mới giải quyết được tình trạng này, chứ không như vừa qua, nhiều ngân hàng chỉ tập trung thu nợ mà không tính toán đầy đủ đến chuyện phải để vốn để doanh nghiệp sống.

Cùng đó, chúng ta cũng cần phân tích rõ, nợ xấu hình thành từ đâu? Rõ ràng, nợ xấu có sự góp phần từ đầu tư cho bất động sản, từ nợ xây dựng cơ bản. Đây là một cái nút cần tháo gỡ.

"Nhiều doanh nghiệp nói rằng không cần Nhà nước hỗ trợ gì cả nhưng Nhà nước phải minh bạch về cơ chế, chính sách, phải đảm bảo chính sách, hàng rào kỹ thuật ổn định." - Ông Phùng Quốc Hiển

Vừa qua, chính sách của chúng ta đã và đang tập trung hỗ trợ cho bất động sản có thể bán được – cũng là cách để xử lý nợ xấu. Ngoài ra, cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tạo vốn. Các chính sách về giảm thuế vừa qua chính là hình thức để tạo vốn cho doanh nghiệp.

Cái cần thứ hai là về thị trường. Thị trường cũng là một trong những điều kiện đảm bảo sự sống còn của doanh nghiệp. 

Chính phủ phải làm thế nào để thúc đẩy được sức mua, nếu cứ bỏ mặc cho việc hàng hóa doanh nghiệp làm ra để bán trên thị trường mà thị trường bị chậm, sức mua giảm và chỉ coi đó như là việc của doanh nghiệp thì rất khó cải thiện tình hình. Phải có bàn tay của Nhà nước để kích hoạt tất cả các thị trường thông qua các chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa. 

Chẳng hạn, Chính phủ có các động thái kích hoạt cho thị trường bất động sản là rất nên làm. Hay kích hoạt thị trường bằng cách thực hiện tuyên truyền, vận động mạnh mẽ hơn để người Việt Nam dùng hàng Việt Nam...

Cái cần thứ ba của doanh nghiệp là các cơ quan nhà nước cần bảo đảm một khuôn khổ pháp lý ổn định. Nhiều doanh nghiệp nói rằng không cần Nhà nước hỗ trợ gì cả nhưng Nhà nước phải minh bạch về cơ chế, chính sách, phải đảm bảo chính sách, hàng rào kỹ thuật ổn định. Nếu không ổn định thì doanh nghiệp cũng không thể nào tính toán hiệu quả đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Tin bài khác:

Wednesday, May 29, 2013

Việt Nam: Cảnh báo từ nền kinh tế nguội lạnh

Ông Trần Đình ThiênTài chính marketing - "Trong khi chưa giải tỏa được những "cục máu đông" nợ xấu, tồn kho đang chặn dòng lưu thông kinh tế thì lại có ý kiến cho rằng cần phải tính đến tình trạng "tồn kho chính sách, tồn kho thể chế lạc hậu", hiểu rộng ra - "tồn kho" cả một mô hình tăng trưởng đã lỗi thời. Mà đây chính là những nguy cơ đe dọa lâu dài sự ổn định vĩ mô", ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nói.

LTS: Ngày mai (30/5), các ĐBQH sẽ thảo luận tại Hội trường trong phiên họp được truyền hình trực tiếp để bàn các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Tuần Việt Nam xin giới thiệu một số góc nhìn của các chuyên gia kinh tế.

Tồn kho chính sách và thể chế

Trên diễn đàn QH vừa qua, nhiều ý kiến đánh giá rằng nền kinh tế hiện đang hết sức khó khăn, thậm chí nhiều người cho rằng gay go lắm rồi? Theo ông, tình hình kinh tế năm 2013 đáng quan ngại đến mức nào?

Ông Trần Đình Thiên: - Tính đến nay đã gần hết quý 2/2013. Vẫn có nhiều dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng tình hình kinh tế sẽ vẫn còn tiếp tục gặp nhiều khó khăn trở ngại trong giai đoạn tới.

Về phương diện tăng trưởng GDP, dễ nhận thấy rằng cả 3 "trụ cột" - tín dụng, ngân sách và lực lượng DN - đều đang rất yếu. Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá thấp, thực lực ngân sách - yếu tố quan trọng nhất để kích thích tăng trưởng trở lại khi nền kinh tế gặp khó khăn nay cũng rất yếu. Lực lượng DN bị tổn thất quá lớn.

Về phương diện ổn định vĩ mô cũng có nhiều khía cạnh đáng lo ngại. Ví dụ như tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm tăng, kéo theo sự giảm sút thu nhập lao động. Đây là hệ quả tất yếu của tình trạng DN phải đóng cửa nhiều hoặc phải giảm mạnh công suất hoạt động. Kết cục là sự suy yếu của tổng cầu kéo dài - một trong những tác nhân gây ra tình trạng trì trệ và suy giảm tăng trưởng.

Ngoài ra, còn những "cục máu đông" đang chặn dòng lưu thông kinh tế - nợ xấu, tồn kho bất động sản - chưa giải tỏa được. Có ý kiến cho rằng còn phải tính đến tình trạng "tồn kho chính sách, tồn kho thể chế lạc hậu", hiểu rộng ra - "tồn kho" cả một mô hình tăng trưởng đã lỗi thời. Mà đây chính là những nguy cơ đe dọa lâu dài sự ổn định vĩ mô.

Tổ hợp những yếu tố trên, dù chưa phải là tất cả những nguyên nhân gây khó khăn cho nền kinh tế, dễ hình dung ra nền kinh tế nước ta đang lâm vào tình thế khó khăn cỡ nào. Phải nói là rất khó. Đó là tình thế vòng xoáy "suy giảm tăng trưởng và bất ổn vĩ mô".

Cũng có thống kê cho thấy khá nhiều DN được lập mới. Vậy có nên coi đó là tín hiệu khởi sắc?

- Đúng là nhiều DN mới đã được thành lập. Theo báo cáo, thông thường số này còn nhiều hơn số DN đóng cửa. Nhưng đó chỉ là con số đăng ký. Số đăng ký mới được thống kê không nhất thiết là số hoạt động, có đóng góp thực vào tạo việc làm và tăng trưởng.

Nhìn vào tương quan con số giữa số DN mới thành lập và số đóng cửa, dễ gây ra sự ngộ nhận là tình hình vẫn ổn, sức sống DN vẫn tốt. Ngộ nhận như vậy sẽ dẫn tới ảo tưởng chính sách. Rất nguy hiểm.

Hiểu một cách đơn giản và thực tế, muốn biết thực sự số DN mới đi vào hoạt động thế nào thì phải kiểm định ở các thông số khác như mức vay vốn tín dụng có tăng không, tiêu thụ điện tăng hay giảm, hay xa hơn, tăng trưởng GDP sau đó có diễn ra tương ứng không.

Đặc thù DN của ta chủ yếu tay không bắt giặc, dựa vào vốn vay. Nhưng chỉ số tín dụng không tăng, điều đó chứng tỏ con số DN đăng ký thành lập mới không có được bao nhiêu ý nghĩa. Và như vậy, hoặc con số này thực tế không có ý nghĩa, hoặc số DN mới làm ăn rất kém hiệu quả, do đó, ít hoặc không tác động gì đến các biến số liên quan trong nền kinh tế.

Nền kinh tế nguội lạnh sẽ nguy kịch

Thưa ông, thực tế cũng có một điểm sáng nổi lên trong những tháng đầu năm nay là lạm phát đã được kiềm chế?

- Đúng là lạm phát đã giảm như mục tiêu đề ra. Điều này góp phần kéo lãi suất xuống, giúp DN tiếp cận vốn dễ dàng, giá cả được kiềm chế ổn định.

Tuy nhiên, cũng phải thấy hai mặt của vấn đề. Ta ca ngợi thành tích giảm lạm phát nhưng cũng cần thấy cái giá phải trả cho việc kéo lạm phát giảm xuống.

Trong những năm qua, chính biện pháp thắt chặt tiền tệ là yếu tố ngắn hạn trực tiếp và chủ yếu kéo giảm lạm phát. Nhưng thắt chặt tiền tệ "quá mức" đã khiến nhiều DN lâm vào tình cảnh khó khăn, bi đát. Nói như vậy có nghĩa là chủ trương hạ lạm phát là đúng, chủ trương thắt chặt tiền tệ là đúng. Nhưng cách "thắt chặt" thế nào để ít gây tổn thất thì lại phải thận trọng.

"Thắt" mạnh đột ngột khi nền kinh tế và các DN đang ốm yếu, đang cần tiếp máu thì nhiều DN sẽ phải "ra đi". Thực tế trong hơn 2 năm qua, có thể nói ta đã phải trả giá rất đắt để có được sự ổn định, dù đó là sự ổn định không vững chắc.

Suốt giai đoạn 2007 - 2011 nền kinh tế vốn dĩ đang bị yếu sẵn. Sau đó khi chúng ta ban hành chủ trương thắt chặt lại càng khiến cho nền kinh tế yếu thêm. Trong khi đó, nếu chỉ thắt chặt vừa phải thì tốc độ lạm phát có thể giảm chậm mà DN đỡ bị kiệt quệ. Đây là một bài học rất quan trọng.

Tôi cho rằng thành tích giữ ổn định giá cả và giảm lạm phát phải nhìn nhiều mặt, nếu không sẽ càng gây thêm ảo tưởng. Bởi vì lạm phát thấp không hẳn là dấu hiệu của sự ổn định vững chắc. Nhiều DN phải đóng cửa cũng là bất ổn vĩ mô, cầu thị trường thấp cũng là bất ổn. Một khi nền kinh tế nguội lạnh thì đó chính là bất ổn, thậm chí còn mang tính nguy kịch hơn.

Nhưng có một vấn đề khiến nhiều người quan ngại rằng các số liệu và thống kê đưa ra chưa nhất quán, thậm chí không chính xác so với thực tế khiến việc đánh giá tình hình bị sai lệch?

- Rõ ràng với cách cung cấp thông tin như lâu nay thì cơ sở để thiết kế chính sách rất khó chuẩn xác. Rất khó, nếu không nói là không thể xây dựng những chính sách đúng và tốt với một cơ sở thông tin, dữ liệu thiếu, yếu và sai.

Về thực trạng thông tin ở nước ta hiện nay, cứ nhìn vào một lĩnh vực phải cung cấp thông tin công khai và "chuẩn" là thống kê việc làm là thấy sự chưa chính xác. Ai cũng nhìn thấy vài năm qua, số DN phá sản nhiều đến vậy mà thống kê cứ tuyên bố việc làm lại cứ tăng lên mà không có bất kỳ sự giải thích nào.

Tại thời điểm hiện nay, thống kê số việc làm mới được tạo ra vẫn tăng đều đặn, giống như thời nền kinh tế "ào ào" tăng trưởng lúc mới đổi mới. Thông tin việc làm, thất nghiệp, như vậy rõ ràng là không hề có sức thuyết phục, thiếu logic, thậm chí gây ra sự thiếu lòng tin trong dân. Nên nhớ rằng chưa cần đến những bộ số liệu tỷ mỉ, sạch sẽ, tự bản thân logic kinh tế đã cho thấy sự thiếu logic của cách tư duy đó.

Công khai minh bạch là yêu cầu hết sức quan trọng. Xã hội cần các số liệu để kiểm chứng, như thế mới có điều kiện để làm chính sách đúng. Muốn có chính sách đúng thì con số thống kê phải đúng, phải có cơ sở.

Đó là chưa bàn đến tình trạng chính sách thì đúng rồi, ban hành kịp thời rồi nhưng khởi động để đi vào thực tiễn thì lại chậm trễ.

Chính phủ phải ưu tiên trả nợ doanh nghiệp

Ông có gợi ý gì về những trọng tâm cần ưu tiên làm từ nay đến hết năm?

- Có ba vấn đề nên làm.

Thứ nhất là thay đổi cách tiếp cận mục tiêu ưu tiên. Thứ hai là tái cơ cấu và thứ ba là xây dựng chương trình phục hồi nền kinh tế.

Cụ thể là gì thưa ông?

- Cách tiếp cận logic mục tiêu của mấy năm qua không giúp nền kinh tế tháo gỡ khó khăn. Ngược lại, tình hình còn gay go hơn. Bây giờ, phải có cách tiếp cận mục tiêu khác đi thì mới giải quyết được vấn đề.

Theo tôi, hiện nay, trong cấu trúc mục tiêu, chưa cần tính vội đến mục tiêu tăng trưởng GDP bao nhiêu %. Cái cần ưu tiên hiện nay là giải tỏa các "cục máu đông", tập trung giải quyết một số "tọa độ" tái cơ cấu trọng điểm - ví dụ chỉ tập trung tái cơ cấu thí điểm 1-2 tập đoàn kinh tế nhà nước.

Nhưng giải quyết nợ xấu và tái cơ cấu là công việc tốn rất nhiều tiền. Ưu tiên giải quyết chúng trong điều kiện nguồn tài lực cả công lẫn tư của nền kinh tế rất yếu nghĩa là trước hết phải ưu tiên dành nguồn lực cho chúng. Sau đó mới tính xem còn bao nhiêu tiền để đầu tư tăng trưởng. Logic vượt thoát tình trạng "vòng xoáy" lưỡng nan hiện nay là ở đó. Dĩ nhiên, có thể đi vay để đáp ứng "hài hòa" các mục tiêu. Nhưng điều đó không làm thay đổi logic ưu tiên các nhiệm vụ.

Như vậy cách tiếp cận là phải thay đổi cơ chế phân bổ nguồn lực. Tăng trưởng là quan trọng nhưng phải theo logic ưu tiên, tạo ra nguồn lực để đem lại cơ sở cho phục hồi tăng trưởng.

Vậy ứng xử thế nào với cục máu đông nợ xấu?

- Nợ xấu ngoài nguyên nhân do DN vay không có tiền trả còn có một tác nhân khác là nhà nước. Thực chất vấn đề là ở chỗ Chính phủ và chính quyền các địa phương đang nợ các DN tiền thanh toán các dự án, công trình xây dựng cơ bản. Theo thống kê khá chính thức thì số nợ này lên đến gần 100.000 ngàn tỷ đồng.

Hơn lúc nào hết, Chính phủ phải lo trả món nợ này cho DN. Động thái vừa qua của Chính phủ chưa đủ quyết liệt để giải tỏa vấn đề này.

Việc Chính phủ ưu tiên trả nợ cho DN sẽ giúp giải tỏa cục máu đông, lưu thông kinh tế tăng lên, tạo được lòng tin của DN với Chính phủ. Lòng tin phục hồi. Cơ sở tăng trưởng cũng được phục hồi. Quả thực, nếu xử lý được nợ xấu thì DN sẽ tiếp cận được vốn, tạo được việc làm, thị trường cũng ấm dần lên.

Ta không nên kỳ vọng việc xóa nợ xấu diễn ra nhanh. Ta chưa hề có kinh nghiệm nào về vấn đề này. Đây là chỗ phải rõ ràng minh bạch. Không ít người nghĩ rằng mọi chuyện sẽ "một phát ăn ngay". Kinh nghiệm thế giới - không có ngoại lệ, đó là một mong ước - tham vọng có màu sắc hoang tưởng.

Ngoài những giải pháp trên, ông có gợi mở gì về định hướng chính sách dài hạn?

- Nên có một chương trình phục hồi kinh tế tương đối dài hạn hơn là kế hoạch cho từng năm một. Nên đặt ra một kế hoạch phục hồi, chương trình phục hồi kinh tế trong khoảng thời gian 3- 4 năm chứ không nên câu nệ.

Bởi nếu tính theo kế hoạch từng năm thì giải pháp đề ra cũng chưa thể phát huy hết "công suất" được. Mọi chính sách phải có thời gian đủ dài mới phát huy hiệu ứng. Nền kinh tế đang rất yếu. Nếu nó có đến đáy rồi thì phục hồi cũng chậm. Đường phục hồi có lẽ (và tốt nhất là) hình chữ U chứ không thể (và không nên) đi lên ngay.

Kế hoạch phục hồi trong 3 - 4 năm bao gồm cả tăng trưởng, ổn định vĩ mô theo nghĩa ngắn hạn và quan trọng hơn là nối chính sách trước mắt với những chuyện dài hạn, như xóa nợ xấu, tồn kho bất động sản, tái cơ cấu.

Xin nhắc lại là trong bối cảnh khó khăn như hiện nay, niềm tin cho khả năng phục hồi của nền kinh tế có thể không rầm rĩ nhưng cách tiếp cận đó cho thấy một triển vọng chắc chắn và khả thi hơn.

Thư viện marketing

Tin bài khác:

Sunday, May 26, 2013

Việt Nam: Thất nghiệp giảm, sao kinh tế lại buồn

[Học marketing] Thông thường, ở nhiều nước trên thế giới, chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp được dùng để đánh giá tình hình sức khỏe của nền kinh tế. Tỷ lệ này thấp tức là nền kinh tế đang khỏe, đang tạo ra nhiều công ăn việc làm. Trong khi đó, câu chuyện ở Việt Nam lại không như vậy.

"Một năm kinh tế buồn"

Có lẽ những người hâm mộ chương trình Táo quân 2013 của Đài Truyền hình Việt Nam chưa quên bài hát cải biên "Hoang mang Style", ở đây chỉ xin trích lại vài câu để cho thấy cái nhìn của các nghệ sĩ về một năm kinh tế buồn ra sao.

Một năm kinh tế buồn. Tiền tiền tiền tiền tiền

Doanh nhân buồn. Tiền tiền tiền tiền tiền

Khắp nơi năm qua bao nhiêu công ty kinh doanh cùng chết sạch

Loay hoay đi vay nhưng không ai cho. Anh em xin vay thì cũng mặc

Hàng tồn hàng thừa không ai mua, không có tiền để mà rồi đáo hạn

Bất động sản thì ngày nào chết nặng.

Thực vậy, nhận định chung của người dân, doanh nghiệp lẫn các chuyên gia về năm 2012 đúng là một năm kinh tế buồn. Theo báo cáo thường niên doanh nghiệp 2012 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, số lượng doanh nghiệp phá sản trong năm 2012 đạt đến mức kỷ lục với 58.128 doanh nghiệp. Tính đến ngày 1-4-2012, Việt Nam chỉ còn 312.600 doanh nghiệp đang hoạt động trong tổng số trên 694.000 doanh nghiệp thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp.

Không chỉ có số lượng doanh nghiệp ngày càng ít đi mà quy mô doanh nghiệp cũng bị thu hẹp đáng kể. Cụ thể là số lao động bình quân trong một doanh nghiệp của năm 2002 là 74 người, đến năm 2011 chỉ còn 34 người. Số liệu của năm 2012 không thấy được đề cập, nhưng có lẽ cũng không khá hơn do sự khó khăn chung của nền kinh tế.

Trước một thực trạng như vậy thì Tổng cục Thống kê lại đưa ra một kết quả điều tra về lao động và việc làm với những con số đẹp như trong mơ.

Những con số không biết nói

Kết quả điều tra lao động việc làm quý IV-2012, được Tổng cục Thống kê công bố hồi cuối tháng 4 vừa qua, cho thấy tính đến thời điểm 1-1-2013, cả nước có 52,79 triệu người thuộc lực lượng lao động. Trong số này có đến 51,93 triệu người có việc làm và chỉ có 857,4 ngàn người thất nghiệp.

So với cùng thời điểm của một năm trước đó, số lao động có việc làm tăng 246 ngàn người, chủ yếu tập trung ở nam giới và ở khu vực thành thị, đồng thời xấp xỉ số người mới tham gia lực lượng lao động trong năm (250 ngàn người).

Như vậy số người thất nghiệp tăng thêm trong năm 2012 chỉ có 4.300 người, đạt tỷ lệ "như mơ" là 1,81%.

Chưa hết, một điểm đáng chú ý khác trong báo cáo, là ở Việt Nam tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị lại cao hơn nông thôn, trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở TP.HCM là cao nhất, trên 3% tính ở thời điểm đầu năm 2013.

Trong khi đó, tại một cuộc hội nghị khác vào đầu năm 2013, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng cho biết tỷ lệ thất nghiệp của nước ta tính đến cuối năm 2012 là 1,99%. Đối với các nhà điều hành kinh tế, đây là điểm sáng trong bức tranh kinh tế u ám của năm ngoái, và điểm sáng này càng sáng hơn khi mà tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm trong các năm gần đây: năm 2010 là 2,8%, năm 2011 là 2,22% và năm 2012 còn chưa đầy 2%.

Thế nhưng, theo số liệu của Chính phủ báo cáo với Quốc hội, được nhiều chuyên gia trích dẫn trong các cuộc họp thì tỷ lệ thất nghiệp của năm 2012 là 3,25%, còn số lượng lao động được giải quyết việc làm là 1,52 triệu người. Cả hai con số này đều được Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Thanh Hòa xác nhận là đáng tin cậy.

Vậy thì, tại sao các con số quan trọng này lại chênh nhau đến như vậy? Đây là câu hỏi cần được trả lời một cách nghiêm túc.

Vài con số so sánh

Phải nói ngay rằng, tỷ lệ thất nghiệp 1,81% như của Tổng cục Thống kê công bố, hay 3,25% như của Chính phủ báo cáo, đều là những là con số đáng mơước của rất nhiều quốc gia, nhất là các nước đang gặp khủng hoảng ở châu Âu và cả nước Mỹ.

Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ, tính đến cuối tháng 4, tỷ lệ thất nghiệp của nước này đã xuống đến mức thấp nhất trong vòng bốn năm qua, đạt 7,5%. Với kết quả này, các nhà kinh tế Mỹ vẫn cho rằng đây là một dấu hiệu khả quan về sự hồi phục tăng trưởng của kinh tế Mỹ.

Còn ở châu Âu, kinh tế Đức được xem vững chãi nhất trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, nhưng tỷ lệ thất nghiệp cũng hơn 7%. Cụ thể, theo Cơ quan lao động liên bang, tỷ lệ thất nghiệp tại Đức trong tháng 4-2013 đã giảm xuống còn 7,1%, đưa tổng số người thất nghiệp xuống còn 3,02 triệu người (giảm 77.500 người).

Nhìn sang các quốc gia châu Âu khác đang bị chìm trong cơn khủng hoảng kinh tế thì tỷ lệ thất nghiệp còn cao hơn rất nhiều. Chẳng hạn, tại Tây Ban Nha, tính đến cuối tháng 3-2013 có hơn 5 triệu người thất nghiệp, tương đương tỷ lệ 27%. Tương tự, ở Hy Lạp là 27,2%, Ý 11,5%, Bồ Đào Nha 17,6%.

Quả thực, nếu chỉ nhìn vào con số thất nghiệp để đánh giá sức khỏe nền kinh tế, như các nước vẫn làm, thì Việt Nam chắc chắn là một hình mẫu kinh tế thành công của khu vực và thế giới. Nhưng thực tế, đây lại là những con số không biết nói bởi vì như đã nói ở đầu bài, năm 2012 là năm cực kỳ khó khăn của nền kinh tế Việt Nam. Trong báo cáo về tình hình kinh tế xã hội năm 2012, Chính phủ cũng đã thừa nhận: "Kinh tế vĩ mô chưa vững chắc. Lạm phát vẫn có nguy cơ tăng trở lại. Nợ xấu gia tăng, xử lý còn chậm và còn nhiều khó khăn. Lãi suất tín dụng còn cao so với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, khó tiếp cận được nguồn vốn, tồn kho lớn. Số lượng doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động còn nhiều. Thị trường bất động sản đình trệ, chưa có khả năng phục hồi sớm, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp, vi phạm pháp luật, gây thất thoát lớn tài sản nhà nước". Với thực trạng kinh tế như trên mà cả nước chỉ có chưa đến 1 triệu người thất nghiệp thì quả thật là khó hiểu.

Số sai, kinh tế sẽ lệch hướng

Nói đến con số việc làm mới được tạo ra trong năm hay tỷ lệ thất nghiệp, rất nhiều đại biểu Quốc hội khẳng định là họ không tin.

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, đã từng phát biểu với báo giới rằng các số liệu về tiền lương, tạo việc làm mới, thất nghiệp đều có vấn đề. Theo ông, trong khi tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP đều giảm so với năm trước, số lượng doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm dừng hoạt động hay phá sản lại tăng mà con số việc làm mới không hề bịảnh hưởng, thậm chí còn tăng và tỷ lệ thất nghiệp lại giảm là điều không thể hiểu.

Đại biểu Trần Du Lịch cũng không ít lần thẳng thắn nói rằng ông không tin năm nào nền kinh tế cũng giải quyết được khoảng 1,5-1,6 triệu việc làm. Theo ông, Chính phủ phải có các công cụ kỹ thuật để tính chính xác số lao động được tạo việc làm mới trong năm, "còn nếu kinh tế cỡ nào cũng giải quyết việc làm cỡ 1,5-1,6 triệu thì Quốc hội quyết làm gì chỉ tiêu này".

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng chia sẻ với quan điểm này. Trong bản tin Kinh tế vĩ mô phát hành hồi giữa tháng 3-2013, cơ quan này cho rằng đang có một sự vận động trái chiều, nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia phân tích, đó là trong khi nền kinh tế được đánh giá là suy giảm, nhưng tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm và thu nhập, tiền lương vẫn được "cải thiện nhẹ" là điều "khó lý giải trong bối cảnh khu vực doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn".

Nói như chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, số liệu thống kê lao động và việc làm tại Việt Nam lâu nay tồn tại quá nhiều bất cập, cả về tính chính xác lẫn ý nghĩa đối với nền kinh tế. "Chỉ tiêu tạo việc làm mới vẫn đều đặn được báo cáo là hơn một triệu mỗi năm, nhưng để chỉ ra được những việc làm đó ở đâu thì rất khó", ông Doanh nói.

Một khi những số liệu quan trọng của nền kinh tế chưa được tính toán một cách chính xác, chưa đủ sức tạo niềm tin cho thị trường, thì khả năng chính sách bị lệch hướng là điều khó tránh.

Tin bài khác:

Saturday, May 25, 2013

Việt Nam: Từ thị trường bất động sản, nghĩ về người giàu Việt Nam

Dự án bất động sản Việt Nam[Tiếp thị bất động sản] Khi viết cuốn “Ai là người giàu nhất Việt Nam?”, tôi có một thuận lợi là hầu hết những người giàu ở nước mình đều coi tôi như bạn bè vì họ tài trợ cho các cuộc thi lớn do báo Tiền Phong tổ chức, trong đó có cuộc thi hoa hậu.

Chính nhờ thuận lợi này nên tôi có điều kiện hiểu sâu hơn về họ. Ngoài chân dung những người làm ăn phát đạt, tôi đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu về cách thức làm ăn, tìm hiểu xem họ làm giàu từ đâu? Tôi cũng tìm hiểu thêm về các tỷ phú, những người siêu giàu trên thế giới để từ đó so sánh ở Việt Nam ta làm ăn có khác với họ không?

Giàu nhanh, sa sút cũng nhanh

Nhiều dự báo của tôi cũng như các chuyên gia qua các bài viết về người giàu Việt Nam, nhất là về bất động sản xem ra là đúng với hiện nay!

Tuy nhiên, ở xứ ta, câu trả lời thật chính xác về nguyên nhân làm giàu của họ, họ làm giàu từ đâu là rất khó.

Bởi nhiều người giàu không lên sàn, cả những người đã lên sàn chứng khoán cũng luôn có sự biến đổi, luôn có sự chuyển đổi từ lĩnh vực này qua lĩnh vực khác, khó xác minh. Đó là chưa kể sự thiếu minh bạch vốn đang tồn tại dai dẳng ở nước ta mà công luận đang lên tiếng.

Ngay cả các thứ đã công khai, các số liệu, các loại thông tin, cả thông tin chính thống nhiều khi cũng chỉ đúng một phần.

Số liệu thống kê của 30 người giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán có trên 26% từ đất đai.

Như vậy, gần 1/3 người giàu ở Việt Nam hoàn toàn từ bất động sản. Đó là chưa tính những người có một phần, hay một nửa từ đất đai. Nếu tính chuẩn, tính hết, có thể nói hai phần ba người giàu ở nước ta là từ đất, từ “ông thần thổ địa” một thời bị lãng quên.

Sở dĩ năm qua có nhiều đại gia giảm tài sản (trên sàn) đến mấy chục phần trăm cũng là do thị trường bất động sản đóng băng, hạ giá rất nhiều vẫn ít người mua. Đây là lĩnh vực giàu lên rất nhanh, cũng là lĩnh vực sa sút nhanh, thậm chí có nhiều người bị phá sản, rơi vào cảnh nợ nần...

Như tôi đã nhiều lần nói đến, suốt một thời gian dài, do chiến tranh, do cơ chế quan liêu bao cấp, do triết lý “kinh tế tiểu nông hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản...”, mà một thời ta coi tư bản như kẻ thù, nên ăn cơm tập thể, ở nhà lắp ghép tập thể do nhà nước phân phối, đất đai là của hợp tác, dần dần trong tư duy của người dân, đất đai chẳng để làm gì...

Cho đến khi công cuộc đổi mới bắt đầu, công nhận tư hữu, chủ trương kinh tế nhiều thành phần (chứ không phải chỉ có một thành phần là tập thể, là công hữu về tư liệu sản xuất).

Làm giàu một cách bền vững

Đó là thời điểm vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà hàng triệu người còn ngơ ngác trước một cơ chế mới mà ta gọi là “cơ chế thị trường”, hầu như tất cả đang ở trên những căn hộ tập thể nhiều tầng với các dãy “chuồng cọp”, chưa kịp nhìn xuống đất, chưa kịp nhớ tới việc ngàn đời nay ông cha ta thường nói về một “mảnh đất cắm dùi” mà nhiều năm qua không ai dám nói đến...

Chính vào thời điểm đó một số người có đầu óc nhạy bén, có một ít tiền tích luỹ được (nhiều người tích lũy từ nước ngoài) liền nghĩ tới đất đai. Mua đất, mua nhà, lấp ao, san vườn... với giá rất rẻ, còn rẻ như cho.

Tiếp đến là biến những khu đất “vàng” ở trung tâm thành phố mà trước đó là khuôn viên nhà máy, xí nghiệp, hay các chung cư cũ nát... thành khách sạn siêu thị, thành các tòa nhà hiện đại để cho các công ty nước ngoài, hay tập đoàn trong nước thuê, hoặc bán đứt cho các ngân hàng, các cơ sở kinh doanh...

Phải nói rằng nhiều người giàu ở ta làm ăn chính đáng, kể cả họ làm giàu từ đất đai, từ bất động sản. Nhưng, cũng có không ít người như báo chí đã đưa tin, họ thiếu trung thực, họ lươn lẹo, ma mãnh thậm chí lừa đảo trong làm ăn, dùng nhiều thủ đoạn bất chính mà công luận đã lên tiếng phản ứng.

Khi có chủ trương cho phân lô, bán nền, các nhà đầu tư bất động sản liền ồ ạt xây nhà ở, xây chung cư cao cấp, vì chỉ cần đầu tư ban đầu, chỉ cần san, lấp được cái nền và có bản vẽ “Khu nhà tương lai” là người ta đổ xô nhau mua.

Mua không phải để ở mà để đầu cơ vì ai cũng nghĩ rằng “người thì ngày càng đẻ thêm nhưng đất đai vẫn vậy...”. Dẫn đến tình trạng giá đất, giá nhà đội lên cao vùn vụt...

Bởi vậy, khi thị trường bất động sản đóng băng, nhiều biệt thự nói như một số bài báo là “biệt thự triệu đô cho... chuột ở”.

Làm ăn từ các dự án “nuốt dân” khó bền vững

Ngoài nhiều dự án của nhiều chủ đầu tư làm ăn chính đáng, cũng không ít dự án tiêu cực. Do “cơ chế” về đất đai ở nước ta còn rất nhiều kẽ hở, nên đã xuất hiện nhiều dự án mà báo chí gọi là “dự án nuốt đất của dân”, tức là biến đất đai - tài sản công thành tài sản tư một cách “hợp pháp”.

Đó là những người biết chớp “thời cơ” khi đất đai còn rẻ, còn sẵn, còn xin cho... để kiếm lời. Nhưng, cái gì cũng vậy, đã có thời cơ thì ắt có lúc mất thời cơ. Thời cơ không vĩnh viễn tồn tại.

Và thực tế đã xảy ra trong năm qua khi bất động sản giảm giá thê thảm, hay nói đúng hơn là đã trở về với giá thực như các chuyên gia về lĩnh vực này phát biểu trên báo chí.

Xem kỹ thống kê 100 gia đình giàu nhất Việt Nam thì thấy: họ giàu lên từ bất động sản là chủ yếu.

Thứ hai là từ tài chính, ngân hàng.

Thứ ba là khai thác, chế biến khoáng sản, hải sản...

Thứ tư là dịch vụ.

Cuối cùng mới là thông tin, truyền thông.

Ta thử nhìn rộng ra thế giới ngày nay xem những người giàu, siêu giàu từ đâu?

Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tổ chức ở Davos (Thụy Sỹ) tháng 1/2012, khi người ta thống kê những người siêu giàu và xem họ làm giàu từ đâu thì thấy công nghệ và viễn thông là đầu tiên.

Đó là ngành làm giàu lớn nhất của những người siêu giàu trên thế giới.

Thứ hai là khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Thứ ba là buôn bán (bán lẻ).

Thứ tư là ngành tài chính, đầu tư.

Ít có những người siêu giàu từ bất động sản.

Điều này khiến ta suy nghĩ hay không? Những người giàu trên thế giới ngày nay luôn gắn với những sản phẩm nổi tiếng (máy bay, tầu thủy, các loại xe ôtô, các loại máy tính, điện thoại di động...) gắn với khoa học, với công nghệ tiên tiến.

Họ làm giàu chủ yếu từ chất xám. Đúng ra là biết phát huy chất xám của những người tài. Ta hãy lấy ví dụ người giàu nhất nước Mỹ, tỷ phú Bill Gates. Sản phẩm của ông là hãng máy tính nổi tiếng Microsoft.

Còn người giàu nhất Hàn Quốc là ông chủ của hãng Samsung, ông Lee Kun Hee. Tên tuổi của Samsung gắn với các loại tivi, máy tính, máy điều hòa nhiệt độ, điện thoại di động nổi tiếng.

Từ đó nói lên điều gì? Nói lên điều mà báo chí vẫn nói: họ làm giàu bền vững. 

Muốn có sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà, phải chăng chúng ta cần một đội ngũ doanh nhân, một tầng lớp người giàu phát triển đúng quy luật, phát triển bền vững, không chỉ dựa vào đất đai, hay tài nguyên thiên nhiên mà phải huy động được nội lực, được chất xám của con người - chất xám của con người Việt Nam vốn thông minh, cần cù, chịu khó... để làm nên những sản phẩm trí tuệ, những sản phẩm từ chất xám của thế giới ngày nay.

Tác giả Dương Kỳ Anh - Nguồn: VnEconomy

Tin bài khác: