Monday, May 20, 2013

Kinh tế Việt Nam: Lối thoát nào cho nền kinh tế?

[Tài chính marketing] Trao đổi với Tiền Phong, các chuyên gia cho rằng, tình hình kinh tế như viên than hồng. Để làm nguội than, phải kiểm soát chặt đầu tư công, không bơm tiền tiếp cho các “xác chết biết đi” và thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, mới có thể tìm ra lối thoát.

Xử lý nợ xấu, hỗ trợ bất động sản

TS Lê Xuân Nghĩa (thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ của Thủ tướng) cho rằng, thời gian gần đây, nhiều đánh giá có tính bế tắc về tình hình kinh tế hiện nay.

Tuy nhiên, khi nhìn vào nền kinh tế của đất nước phải trông vào cả 3 bộ phận: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Và nhìn một cách tổng quát mới có thể đánh giá kinh tế đang nằm ngang, đi lên hay đi xuống.

Hiện nay, dù doanh nghiệp vẫn chưa thoát được khó khăn, nhưng đã có dấu hiệu chuyển mình. Sản xuất công nghiệp cũng có dấu hiệu phục hồi. Tháng 3, chỉ số quản lý mua hàng (PMI) đã tăng lên 50% và tháng 4 gần 51%. Đây là tín hiệu quan trọng đánh giá công nghiệp đang phục hồi. Xuất khẩu cũng đang có tín hiệu tốt hơn nhiều so với dự đoán.

Giải pháp quan trọng nhất hiện nay là phục hồi tổng cầu, cùng lúc làm nhiều việc và quan trọng nhất là phải phá băng tín dụng, làm thế nào để tăng trở lại. Đây không phải là công việc ngày một ngày hai.

Theo ông Nghĩa, nhiều người Việt Nam tưởng rằng đã phá xong băng tín dụng nhưng thực tế không phải vậy. Chúng ta đừng ảo tưởng bằng biện pháp hạ trần lãi suất có thể phá được băng tín dụng. Nó phải gắn liền với xử lý nợ xấu, hỗ trợ thị trường bất động sản, đặc biệt phải phục hồi sản xuất kinh doanh trong công nghiệp.

“Khi tín dụng không ra, phải có cách tăng cầu. Cách hữu hiệu nhất là tăng được đầu tư công. Đặc biệt là việc xây dựng những công trình trọng điểm quốc gia đang dở dang, lãng phí. Nếu vốn từ ngân hàng không ra được thì phải cho ra từ Chính phủ. Người dân không chi tiêu thì Chính phủ phải tiêu. Việc hạ lãi suất đã khá thấp, nhưng vẫn phải củng cố để ổn định, kéo lãi suất cho vay xuống 9-10%”, ông Nghĩa nói.

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), TS Nguyễn Đức Thành cho rằng, tình hình thật sự xấu đã diễn ra trong năm 2012. Hiện chưa có biện pháp hữu hiệu cho việc tìm ra lối thoát cho tình hình hiện nay.

Một trong những điểm tắc nghẽn nhất là vấn đề nợ xấu vẫn chưa giải quyết. “Ngân hàng vẫn đang loay hoay tự giải quyết. Nếu chưa giải quyết được nợ xấu một cách căn cơ thì lãi suất cho vay vẫn chưa hạ. Dù lãi suất huy động hạ rất mạnh. Đề án xử lý nợ xấu hiện nay chưa đủ mà phải mở rộng, phải có giải pháp tháo gỡ, phục hồi sức mạnh của doanh nghiệp”, ông nói.

Phá băng rào cản chính sách

TS Lê Đăng Doanh cho rằng, các số liệu về tình hình kinh tế khó khăn đã được nhiều cấp bộ, ngành nói đến nhiều. Mới đây các quan chức ở Quốc hội cũng đã nhấn mạnh đến các con số này và đi đến nhận định rất gay go.

Theo ông Doanh, tình hình hiện nay như viên than hồng nóng bỏng. Vấn đề bây giờ là phải phá băng các rào cản chính sách. Cần biện pháp xử lý cụ thể, đồng thời có bước ngoặt trong hành động chứ không chỉ trong lời nói. Phải xem tại sao các dự án, các nghị quyết về tái cấu trúc, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu, đầu tư công cho đến nay chưa thực hiện được. Thậm chí tái cấu trúc đầu tư công đến nay chưa có đề án, chỉ có quyết định cắt giảm và rút vốn.

Tức là nền kinh tế đối mặt với những vấn đề rất lớn, nhưng biện pháp đề ra chỉ đúng về mặt hình thức (có sức sống mạnh mẽ trong thực tế hay không lại chưa thấy). Quốc hội nên thảo luận kỹ, và đảm bảo sẽ được thực hiện trong thực tế.

“Để viên than hồng nguội bớt, phải có tái cấu trúc, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu. Tôi nghĩ phải thay đổi cơ bản ngân sách nhà nước, kiểm soát chặt chẽ đầu tư công, chịu trách nhiệm về đồng tiền, hạn chế chi tiêu lãng phí, không để tình trạng bơm tiền cho các “xác chết biết đi” nữa. Cũng thử xem có cần đầu tư từng ấy bến cảng, sân bay hay không? Hiện nhiều sân bay địa phương lỗ, mỗi ngày chỉ có 1-2 chuyến bay”, TS Doanh nói.

Tại diễn đàn Kinh tế mùa Xuân mới đây, TS Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký VCCI cho biết, kết quả khảo sát mới đây cho thấy, 73% doanh nghiệp khẳng định hàng tồn kho thực sự là mối lo ngại trong giai đoạn này. Các doanh nghiệp cũng đã tìm mọi cách để giải quyết như tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, giảm giá bán, đưa hàng về nông thôn... nhưng vẫn không thoát khỏi bế tắc.

Để khỏi tình trạng “chết” vì hàng tồn kho ứ đọng, theo bà Hằng, doanh nghiệp cho rằng Chính phủ cần hạn chế tối đa nhập khẩu các mặt hàng không cần thiết. Đồng thời lập các hàng rào kỹ thuật, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, và tăng cường mua tạm trữ hàng hóa.

“Giải pháp lúc này là Nhà nước cần có một cách tiếp cận phù hợp hơn khi thiết kế các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến nay, ngoài chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hầu hết các biện pháp hỗ trợ đều chung chung cho các doanh nghiệp, hậu sản xuất”, bà nói.

"Cần phải bán nhanh những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả; những doanh nghiệp có nợ xấu gắn với các ngân hàng. Phải tạo ra cơ chế mua khoản nợ xấu, có giao dịch, có dòng tiền vào thật. Cùng đó, cần nhanh chóng tạo thị trường mua bán nợ xấu ở cấp độ doanh nghiệp" TS. Trần Đức Thành

Theo Phạm Tuyên - Nguyễn Thảo - nguồn: Tiền phong

Tin bài khác:

Wednesday, May 15, 2013

Học marketing: Kỹ năng “định giá thương hiệu”

[Học marketing] Thương hiệu là tài sản rất đặc biệt , thậm chí đối với nhiều doanh nghiệp, nó là tài sản quan trọng nhất. Thương hiệu ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng, nhân viên, nhà đầu tư và chính quyền. Vì vậy, khi thế giới đầy ắp sự lựa chọn, những ảnh hưởng của thương hiệu bỗng trở nên vô cùng quan trọng góp phần tạo nên thành công cho công ty cũng như giá trị cho các cổ đông. Ngay cả những tổ chức phi lợi nhuận cũng bắt đầu chăm chút cho thương hiệu của mình như một tài sản then chốt nhằm thu hút các nhà hảo tâm, từ thiện và tình nguyện viên.

Có rất nhiều nghiên cứu để đo lường phần đóng góp của thương hiệu vào giá trị của cổ đông, trong đó thành công nhất phải kể đến cuộc nghiên cứu "Những thương hiệu mạnh nhất toàn cầu" của Interbrand. Cuộc nghiên cứu đã rút ra kết luận: trung bình, thương hiệu đóng góp một phần ba vào giá trị cổ phiếu. Ở nhiều trường hợp, thương hiệu có thể nắm hơn 70% giá trị cổ phiếu.

Thương hiệu cũng minh chứng cho lịch sử tồn tại lâu dài vốn là niềm tự hào của riêng mỗi công ty. Đồng thời thương hiệu còn giúp duy trì lợi thế cạnh tranh so với những công ty khác. Hiện nay, thương hiệu có giá trị nhất là Coca Cola với trên 118 tuổi và rất nhiều thương hiệu dẫn đầu khác đã có số tuổi trên 60. Chúng không những có tuổi thọ gấp ba lần tuổi thọ trung bình của các công ty mà còn trải qua rất nhiều đời chủ khác nhau. Chính lịch sử tồn tại cùng với khả năng ảnh hưởng của thương hiệu khiến chúng trở thành tài sản chủ chốt của cả doanh nghiệp hàng tiêu dùng lẫn doanh nghiệp B2B.

Có rất nhiều nghiên cứu để đo lường phần đóng góp của thương hiệu vào giá trị của cổ đông, trong đó thành công nhất phải kể đến cuộc nghiên cứu "Những thương hiệu mạnh nhất toàn cầu" của Interbrand. Cuộc nghiên cứu đã rút ra kết luận: trung bình, thương hiệu đóng góp một phần ba vào giá trị cổ phiếu. Ở nhiều trường hợp, thương hiệu có thể nắm hơn 70% giá trị cổ phiếu.

Những phương pháp định giá thương hiệu

Khi định giá doanh nghiệp cần gộp tất cả tài sản của doanh nghiệp đó, kể cả thương hiệu. Song chỉ đến cuối thập kỉ 80, người ta mới đưa ra những phương pháp định giá giúp giá trị đặc biệt của thương hiệu có quyền được hiểu và đánh giá một cách đúng đắn. Nếu như trước đây, ý tưởng tách biệt thương hiệu để đo lường, đánh giá khiến nhiều người nghi ngờ, không đồng tình thì nay việc đề ra một phương pháp chứng thực nhận được sự ủng hộ và hưởng ứng rộng rãi, nhiệt tình của cả hai phía: marketing và tài chính. Để bảo đảm một loạt yêu cầu của các tiêu chuẩn kế toán, các vấn đề chuyển giá và thực hiện hợp đồng licensing; tiến hành liên kết (merger) và sát nhập (acquisition) v.v… đã khiến định giá thương hiệu trở thành một công việc vô cùng quan trọng trong các họat động kinh doanh ngày nay.

Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để đánh giá thành tích và giá trị của thương hiệu nhưng phổ biến vẫn là nghiên cứu ước lượng tài sản thương hiệu hoặc thuần khiết sử dụng các chỉ số tài chính.

Nếu chỉ sử dụng một trong hai cách trên, việc đánh giá giá trị của thương hiệu không thể trọn vẹn và chính xác vì thiếu một trong hai yếu tố hoặc là của tài chính, hoặc là của marketing  Điều đó buộc người ta phải nghĩ ra một cách có thể kết hợp cả hai ưu điểm trên, gọi là phương pháp kinh tế. Phương pháp này giúp tính ra giá trị của thương hiệu không chỉ phù hợp với các nguyên lí tài chính hiện nay mà còn có thể dùng nó để so sánh với tất cả tài sản khác của doanh nghiệp. Vì vậy giờ đây nó được đề cập và chấp nhận rộng rãi nhất. thương hiệu được định giá bằng cách xác định thu nhập trong tương lai có thể kiếm được nhờ thương hiệu  sau đó qui số tiền này về giá trị hiện tại bằng cách sử dụng lãi suất chiết khấu (lãi suất chiết khấu phản ánh mức độ rủi ro của số tiền lãi trong tương lai). Phương pháp "kinh tế" do Interbrand đề ra năm 1988 và đã trở thành hệ phương pháp được thừa nhận rộng rãi nhất, được áp dụng ở hơn 3.500 cuộc định giá trên toàn thế giới. Phương pháp này dựa trên những nguyên tắc cơ bản của marketing và tài chính.

Ở khía cạnh marketing, người ta quan tâm đến khả năng tạo ra lợi nhuận của thương hiệu đối với các hoạt động kinh doanh. Đầu tiên thương hiệu giúp khơi dậy nhu cầu cần mua ở người tiêu dùng – người tiêu dùng ở đây có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp, tập đoàn. Nhu cầu của người tiêu dùng thể hiện thông qua doanh thu dựa trên số lượng mua, giá cả và mức độ thường xuyên. Thứ hai, thương hiệu thu hút được lòng trung thành của người tiêu dùng trong dài hạn.

Ở khía cạnh tài chính, giá trị thương hiệu chính là giá trị qui về hiện tại của thu nhập mong đợi trong tương lai có được nhờ thương hiệu  Theo lí thuyết tài chính quốc tế, dòng tiền mặt được chiết khấu (discounted cash flow – DCF) và giá trị hiện tại ròng (net present value – NPV) của thu nhập trong tương lai là những khái niệm thích hợp để đo lường giá trị của bất kì loại tài sản nào. Kể cả những tài sản hữu hình vốn được định giá theo chi phí thì nay được định giá một cách chuyên môn hơn theo DCF. Phương pháp qui về giá trị hiện tại ròng lúc đầu dựa trên dòng tiền mặt được chiết khấu nhưng ngày nay nhiều công ty xem nó như mô hình lợi nhuận kinh tế dùng để dự báo tài chính. Theo định nghĩa, cả thuật ngữ DCF lẫn lợi nhuận khi qui về giá trị hiện tại ròng sẽ có giá trị tương tự nhau.

5 bước cần xem xét để định giá một thương hiệu:

  1. Phân khúc thị trường – thương hiệu ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng, song có sự khác biệt ở mỗi thị trường. Thị trường của thương hiệu được chia thành nhiều nhóm khách hàng tương đối đồng nhất với nhau theo những tiêu chuẩn như sản phẩm hay dịch vụ, kênh phân phối, bằng sáng chế, khu vực địa lí, khách hàng hiện tại và khách hàng mới v.v… Thương hiệu được định giá theo mỗi phân khúc và tổng giá trị của các phân khúc sẽ cấu thành tổng giá trị của thương hiệu.
  2. Phân tích tài chính – Tiếp theo bước 1, ở mỗi phân khúc, xác định và dự báo doanh thu lẫn thu nhập từ các tài sản vô hình có được nhờ thương hiệu  Khoản thu nhập vô hình bằng doanh thu thương hiệu trừ đi chi phí họat động, các khoản thuế liên quan và lãi vay. Có thể nói khái niệm này cũng giống như khái niệm lợi nhuận về mặt kinh tế.
  3. Phân tích nhu cầu – Chỉ số " Vai trò của xây dựng thương hiệu  thể hiện phần trăm đóng góp của thu nhập vô hình có được nhờ thương hiệu. Nó được tính bằng cách xác định những nhánh nhu cầu khác nhau của việc kinh doanh dưới cùng thương hiệu, sau đó đo lường mức độ ảnh hưởng của thương hiệu  Thu nhập của thương hiệu bằng chỉ số "Vai trò của xây dựng thương hiệu" nhân với thu nhập vô hình.
  4. Tiêu chuẩn cạnh tranh – Phân tích những thế mạnh và điểm yếu của thương hiệu nhằm xác định Lãi suất khấu trừ thương hiệu (lãi suất này phản ánh độ rủi ro của thu nhập kỳ vọng trong tương lai có được nhờ thương hiệu), được đo lường bởi "Điểm số sức mạnh thương hiệu". Để có được kết quả này, người ta kết hợp xem xét các tiêu chuẩn cạnh tranh và tập hợp kết quả đánh giá về thị trường của thương hiệu, mức độ ổn định, vị trí lãnh đạo, xu hướng phát triển, hỗ trợ, độ phủ thị trường v.v…
  5. Tính toán giá trị thương hiệu – Giá trị thương hiệu là giá trị hiện thời (NPV) của thu nhập dự đoán có được nhờ thương hiệu, bị khấu trừ bởi Tỉ lệ khấu trừ thương hiệu. Kết quả NPV không chỉ rút ra ở thời điểm dự đoán mà còn ở thời điểm xa hơn nữa để có thể phản ánh khả năng tạo ra nguồn thu nhập liên tục trong tương lai của thương hiệu.

Thực tiễn ứng dụng

Từ khi được chính thức thừa nhận năm 1988, công tác định giá thương hiệu không ngừng mở rộng. Ngày nay định giá thương hiệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hầu hết các quyết định tài chính và marketing chiến lược, cụ thể là hai lĩnh vực chính: Quản lí chiến lược thương hiệu và Giao dịch tài chính. Định giá thương hiệu để vạch ra chiến lược quản lí thường tập trung chủ yếu vào những đối tương thuộc nội bộ công ty bằng cách cung cấp các công cụ và qui trình để quản lí và làm tăng giá trị kinh tế của thương hiệu. Riêng với tài chính, nó tạo thuận lợi giải quyết các vấn để giao dịch liên quan đến thương hiệu với bên ngoài.

Ở khía cạnh quản lí chiến lược thương hiệu

Từ khi mọi người nhận ra giá trị kinh tế của thương hiệu, nhu cầu quản lí hiệu quả tài sản thương hiệu đã và đang tăng cao. Trong quá trình đeo đuổi làm tăng giá trị cho các cổ đông, các công ty hăng hái vạch ra các bước để quản lí thương hiệu ngang tầm quan trọng với những tài sản còn lại. Chúng bao gồm:
  • Đánh giá một cách lạc quan công tác đầu tư kinh doanh bằng cách so sánh tài sản thương hiệu với những tài sản hữu hình và vô hình khác của công ty. Việc phân phối các nguồn lực giữa các loại tài sản khác nhau tuân theo cùng tiêu chí, ví dụ phân phối vốn cần thiết phải đi cùng với yêu cầu đòi hỏi khoản thu về nhất định.
  • Đo lường khoản thu về trên số vốn đầu tư cho thương hiệu dựa trên giá trị thương hiệu hay còn gọi là chỉ số ROI. Hiệu quả công việc của những nhà cung cấp dịch vụ marketing và quản lí thương hiệu được đo lường dựa vào những mục tiêu rõ ràng liên quan đến giá trị của tài sản thương hiệu.
  • Đánh giá một cách lạc quan công tác đầu tư bằng cách đặt ra thứ tự ưu tiên theo thương hiệu  phân khúc người tiêu dùng, thị trường, địa lí, sản phẩm hay dịch vụ, kênh phân phối …
  • Khi cho phép các công ty con sử dụng thương hiệu  việc quản lí và sử dụng cần phải được kiểm soát. Một tài sản phải trả tiền khi sử dụng sẽ có cách quản lí khác với so với tài sản được sử dụng miễn phí.
  • Ở phòng marketing chi phí "biến thành" lợi nhuận, khi đầu tư tức sẽ đem về thu nhập (chính là tiền bản quyền của các công ty con khi sử dụng tên tuổi thương hiệu). Điều đó giúp việc quản lí trở nên rõ ràng và dễ dàng hơn. Theo đó, phần thưởng và việc thăng tiến của đội ngũ nhân viên marketing cũng sẽ đi cùng với mức độ tăng giá trị của thương hiệu.
  • Chi phí marketing sẽ được quyết định dựa trên phần lợi nhuận mà đơn vị kinh doanh của thương hiệu đó đã đạt được.
  • Lập thành một hệ thống cho các thương hiệu (ví như thương hiệu tập đoàn, thương hiệu sản phẩm, thương hiệu công ty con) theo giá trị đóng góp tương ứng.
  • Thẩm định những sáng kiến liên kết thương hiệu dựa trên lợi ích và rủi ro của chúng ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu của công ty.
  • Dựa trên tình hình thực tế để đề ra cách xây dựng thương hiệu hiệu quả sau khi liên kết.
  • Quản lí chặt chẽ những giá trị chuyển đổi của thương hiệu liên kết sao cho giá trị thương hiệu của công ty không những được tăng lên mà còn có thêm những tiềm năng phát triển. Do vậy công ty buộc phải hiểu rõ và xác định được những rủi ro có thể xảy ra để tránh.
  • Lập ra những bảng điểm để đo lường hiện trạng thương hiệu kịp thời và đúng lúc.
  • Thiết lập một sơ yếu lí lịch cho những thương hiệu ở nhiều thị trường dựa trên việc công tác định giá thương hiệu  Từ bảng sơ yếu lí lích này, người ta có thể cân nhắc giữa việc đầu tư và thành tích đạt được của thương hiệu từ đó tìm cách nâng cao phần lợi nhuận đem về nói chung.
  • Truyền thông ở những nơi có thể giúp nâng cao giá trị thương hiệu như thị trường vốn… Điều đó sẽ hỗ trợ cho giá trị cổ phần cũng như tạo thêm nguồn quĩ của riêng bạn.
Nói tóm lại, việc định giá thương hiệu sẽ cung cấp nhiều hỗ trợ giúp công ty quản lí và giành được lợi nhuận cao hơn nữa khi sử dụng tài sản thương hiệu của chính họ.

Ở khía cạnh giao dịch tài chính

Tthương hiệu được xem là tài sản chủ chốt khi tiến hành giao dịch tài chính. Sau đây là những điều cần lưu ý khi tiến hành định giá thương hiệu:
  • Ấn định giá chuyển giao thương hiệu tùy theo từng công ty con. Để việc đóng thuế trở nên có lợi, phí bản quyền thương hiệu có thể được hồi lại giống như thu nhập tại các trụ sở tập đoàn. Các công ty con cũng có thể được phép sử dụng thương hiệu của công ty mẹ.
  • Quyết định mức phí bản quyền thương hiệu đối với việc chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu cho bên thứ ba.
  • Chuyển tài sản thương hiệu trở thành nguồn vốn trong bảng cân đối theo đúng tiêu chuẩn của US GAAP, IAS hoặc qui định của nước sở tại. Giá trị thương hiệu không chỉ được định giá một lần mà còn được điều chỉnh sau mỗi thời gian nhất định.
  • Thương lượng giá trị mua bán của thương hiệu khi tiến hành sát nhập cũng như chứng minh rõ ràng với đối tác những giá trị nào sẽ được cộng thêm sau khi tiến hành chuyển giao sẽ giúp nâng cao giá bán hoặc giá mua sau cùng.
  • Quyết định phần giá trị đóng góp của thương hiệu vào liên doanh để phân chia tỉ lệ lãi, yêu cầu góp vốn và quyền điều hành trong liên doanh.
  • Sử dụng thương hiệu để đảm bảo các phần nợ với quyền khai thác thương hiệu như phần kí quĩ.
Tóm lại, một khi bạn nắm vững giá trị kinh tế của thương hiệu  bạn sẽ thật sự tự tin khi hiểu rõ được giá trị thương hiệu của chính mình.
Theo Saga

Học marketing: Kỹ năng xây dựng ngân sách thương hiệu


[Học marketingQuản trị hoạch định ngân sách marketing quyết định sự thành bại của một thương hiệu. Đây có lẽ vẫn là điểm yếu trong hệ thống quản trị của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Cuối năm là thời gian một số công ty đang tập trung kế hoạch marketing và xây dựng ngân sách thương hiệu cho năm tài khóa kế tiếp. Chuyên gia xin chia sẻ một số kỹ năng liên quan mong giúp quý doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch tốt hơn, nâng cao tính chuyên nghiệp trong quản trị thương hiệu.

Quy trình 10 bước lập kế hoạch marketing

Một quy trình lập kế hoạch marketing plan đầy đủ thường bao gồm 10 bước sau:
  1. Sứ mệnh: xác định lại tầm nhìn và sứ mệnh cho doanh nghiệp và cho thương hiệu chính; 
  2. Mục tiêu: phân tích lại những mục tiêu trung hạn bao gồm: mục tiêu đầu tư, hoà vốn, mục tiêu doanh số, mục tiêu về phân phối và thị trường, mục tiêu về thương hiệu; 
  3. Phân tích SWOT: theo mô hình của chuyên gia, xác định SW theo mô thức 7P và xác định OT theo mô thức 5 trends; 
  4. Brand Audit: Đánh giá Thương hiệu;
  5. Giả định (assumptions): các giả định kịch bản cạnh tranh, giả định phản ứng của đối thủ, nhận định các trạng thái thị trường; (5') Dự báo kinh doanh (Sales Forecast) dự báo doanh số theo từng thương hiệu theo từng sản phẩm, chia nhỏ dự báo theo từng địa bàn phân phối và kênh phân phối;
  6. Chiến lược: xây dựng bộ giải pháp chiến lược toàn diện theo mô thức 7P và xây dựng bộ chiến lược hình ảnh thương hiệu theo mô thức ‘phẫu hình ảnh’;
  7. Kế hoạch Marketing chi tiết áp dụng mô thức Kéo và Đẩy, xây dựng từng nhóm giải pháp marketing theo mô thức Above-the-line và Below-the-line;
  8. Xây dựng Kế hoạch Ngân sách Marketing cho từng Brand;
  9. Xây dựng ý tưởng và định hướng sáng tạo (concept) cho một số chương trình, sự kiện chính bao gồm cả TVC và thiết kế bao bì, thiết kế quảng cáo; và 
  10. Xây dựng network kế hoạch chi tiết theo từng địa bàn, từng nhóm giải pháp và từng tháng.

Các nhóm Ngân sách Thương hiệu

Above-the-line:

Là tất cả các hoạt động truyền thông đại chúng, thiết kế hình ảnh, thong điệp, sáng tạo ý tưởng… nhắm đến người tiêu dùng, công chúng, khách hàng tiềm năng, nhóm tác động và tạo ảnh hưởng, giới chuyên môn…Above-the-line thường chiếm phần nhiều ngân sách marketing và được hoạch định rất chi tiết.

Về bản chất above-the-line sẽ tạo ra ‘Lực Kéo’ trong quản trị thương hiệu. Vì vậy một chương trình hay kế hoạch marketing đặt nặng vấn đề above-the-line cũng hay được gọi là Chiến lược Kéo. Cũng cần lưu ý khái niệm ‘Lực Kéo’ là khách hàng kéo một sản phẩm – thương hiệu về phía họ, chứ không phải ‘chúng ta’ lôi kéo khách hàng về phiá mình.

Below-the-line:

Về bản chất below-the-line sẽ tạo ra ‘Lực Đẩy’ trong quản trị thương hiệu. Vì vậy một chương trình hay kế hoạch marketing đặt nặng vấn đề below-the-line cũng hay được gọi là Chiến lược Đẩy, hay chiến lược chú trọng đến Người Bán chứ không phải Người Mua.

Below-the-line thường bao gồm tất cả các hoạt động marketing trên hệ thống phân phối, hệ thống bán lẻ, các chương trình cổ động gắn liền với bán hàng hay kích thích bán hàng; các hoạt động trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại chỗ, các xe bán hàng lưu động…

Một chiến lược cơ bản luôn hài hoà và tối ưu hoá lực kéo và lực đẩy và trong thực tế hoàn toàn có thể đo lường hay ước lượng được độ mạnh của các lực này, kể cả của các thương hiệu đối thủ cạnh tranh nữa.

Việc gia giảm lực kéo hay lực đẩy trên toàn quốc hay ở mỗi thị trường khu vực đồng nghĩa với việc tăng hay giảm mức ngân sách cho below hay above ở từng thị trường cụ thể. Lợi ích của việc áo dụng mô hình Kéo và Đẩy là chìa khoá quản trị xuyên suốt, từ chiến lược cho đến cạnh tranh, từ marketing và bán hàng, phân phối, giữa toàn quốc và ở từng địa phương. Trong giai đoạn đầu áp dụng mô hình quản trị Kéo và Đẩy doanh nghiệp cần tham vấn chuyên gia để được hướng dẫn cụ thể, sau đó các năm tiếp theo doanh nghiệp hoàn toàn có thể tự mình xây dựng kế hoạch marketing theo các mô thức chuyên nghiệp như đã nêu.

Overriding Budget, ngân sách chung

Một số loại ngân sách không nằm trong above hay below-the-line, bao gồm: các loại ngân sách nghiên cứu thị trường, ngân sách phát triển đại lý, mở thị trường mới, ngân sách marketing công ty và ngân sách nghiên cứu phát triển.

a. research budget (ngân sách nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng)

b. corporate marketing budget (ngân sách PR, quảng bá thương hiệu công ty)

c. R&D innovation budget (ngân sách nghiên cứu sản phẩm mới)

Đối với các loại ngân sách này được xem như fix account tài khoản đầu tư cố định vì nó không trực tiếp làm tăng doanh số bán hàng. Ngoại trừ trường corporate brand cũng chính là product brand tức thương hiệu công ty trùng với thương hiệu sản phẩm.

Xác định % chi phí marketing

Việc xác định mức phần trăm ngân sách trên doanh số bán hàng dự kiến, theo kinh nghiệm mà chúng tôi nhận thấy, là vấn đề phức tạp cho doanh nghiệp nhất là các công ty Việt Nam chưa có kinh nghiệm lâu năm trong quản trị marketing.

Theo tư duy Tiếp thị thương hiệu, về cơ bản Ngân sách Marketing là khoản đầu tư, hơn là chi phí biến phí theo doanh số. Do đó có thể hoạch toán khấu hao một khoản chi marketing cho 2,3 năm thay vì một năm. Vd: nếu hoạch định TVC (phim quảng cáo) cho một năm doanh nghiệp chỉ có thể chi mức trung bình hiện nay là 30,000USD. Nếu hoạch toán 3 năm thì mức đầu tư cho một phim TVC có thể cao hơn (50-70,000USD) và chất lượng quảng cáo sẽ cao hơn, TVC sẽ ấn tượng và thu hút khách hàng hơn.

Phần trăm % chi phí marketing & thương hiệu phụ thuộc vào các tham số chính sau:

Tỷ lệ giá trị Cảm tính trong sản phẩm, tỷ phần giá trị cảm tính so với lý tính. Trong cùng một chủng loại (category), một nhãn hàng cao cấp thường có Giá trị Cảm tính cao hơn một nhãn hàng bình dân, và tương ứng là mức % ngân sách thương hiệu sẽ cao hơn và phần đóng góp của sáng tạo & truyền thông sẽ phải cao tương ứng.

Cạnh tranh: % ngân sách thương hiệu phải tương xứng với vị thế cạnh tranh. Một thương hiệu dẫn đầu phải có chi phí marketing cao tưng xứng so với các đối thủ. Việc này xem ra chẳng có gì là phi lý nhưng một thương hiệu thành công dẫn đầu phải có hiệu suất chi marketing cao hơn, nghĩa là nó phải là thương hiệu số một với mức chi ngân sách thấp hơn các đối thủ. Vd: một thực tế rằng Heineken là thương hiệu số một nhưng chưa bao giờ là thương hiệu ‘chi nhiều tiền nhất’.

Trạng thái thị trường: theo nguyên tắc chuyên gia đã xác định có 7 trạng thái phổ biến thị trường, mỗi trạng thái sẽ cần có một nguyên tắc ngân sách marketing tương thích. Các trạng thái thị trường gồm có: thị trường nguyên thủy (virgin), thị trường hình thành (emergeng), thị trường phát triển, thị trường cạnh tranh cao, thị trường ổn định cân bằng, thị trường thu hẹp (declined), thị trường khủng hoảng (crisis)…

Theo từng ngành nghề mức % ngân sách marketing cũng rất khác nhau. Ngành sắt thép hay xi măng, mức % marketing thường là rất nhỏ, chừng dưới 0.5%. Chẳng hạn như hiện nay ngành xăn dầu (Petrolimex) chi đến 500đ/lít xăng cho nhà phân phối là mức quá cao. Chi phí này được xem là chi hoa hồng đại lý và hỗ trợ tiếp thị below-the-line. Ngược lại trong những ngành sản phẩm cao cấp như sản phẩm mỹ phẩm và thời trang, chi phí có thể lên đến 50% so với giá bán buôn hoặc thậm chí 100% so với chi phí sản xuất.
Quản lý Ngân sách Marketing & Thương hiệu

Trong việc quản lý ngân sách có những vấn đề chuyên môn cần phải nắm rõ: (a) xây dựng bảng mã số ngân sách (account code), (b) cách thức báo cáo chi ngân sách marketing, (c) phân bổ thẩm quyền quản lý, duyệt ngân sách…

Về cơ bản Brand Manager chịu trách nhiệm chính trong hoạch định đề xuât ngân sách trước hội đồng quản trị dưới sự giám sát của CEO. Doanh nghiệp định hướng Quản trị Thương hiệu thậm chí giao quyền hạn và trách nhiệm cho Brand Manager về hiệu quả kinh doanh mỗi thương hiệu và vì vậy Brand Manager phải xây dựng phản phân tích lợi nhuận P&L (profit & Lost) cho từng nhãn hàng. Để làm được việc đó trong hệ thống code chi phí sẽ phân chia rõ ràng hệ thống chi phí cố định trong sản xuất ấn định % chiết khấu trong các chi phí gộp (như điện nước, nhân công sản xuất…) ra từng phần, và từ đó Brand Manager có thể nhập dữ liệu các chi phí cố định thành phần, vào trong chi phí cố định theo từng nhãn hàng do mình phụ trách thể hiện trong các P&L sheet. Giám đốc Tài chính sẽ là người hỗ trợ đắc lực và phản biện cho Brand Manager trong các hoạch định ngân sách marketing cho từng nhãn hàng của mình.

Brand Manager và các trợ lý của mình còn phải lập báo cáo chi ngân sách marketing hàng tháng cho CEO và CFO, trong đó so sánh giữa ngân sách thực tế với ngân sách theo kế hiạch, giữa ngân sách với doanh thu thực thế và đối chiếu với doanh số kỳ vọng trong Bảng Forecast (dự báo bán hàng) đã được thống nhất.

Trong những trường hợp biến động: cơ hội đật biến, phản ứng từ phiá đối thủ cạnh tranh, khủng hoảng thị trường hay biến động chính sách…Brand Manager phải là người có bản lĩnh thay đổi ngân sách để nắm bắt cơ hội thị trường cũng như phòng tránh rủi ro thất thoát ngân sách.

Quản trị hoạch định ngân sách marketing quyết định sự thành bại của một thương hiệu. Đây có lẽ vẫn là điểm yếu trong hệ thống quản trị của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

Theo VnBrand

Tuesday, May 14, 2013

Tiếp thị văn hoá: Giáo sư Hồ Ngọc Đại "Giáo dục vì lợi ích của ai?"

Tiếp thị văn hoá
[Học marketing] Theo GS Hồ Ngọc Đại, một đứa trẻ học giỏi toán đáng được đề cao thì những đứa trẻ chăm quét nhà cũng nên được khen. Quan niệm về sự bình đẳng, dám chịu trách nhiệm, biết chia sẻ là điều tiên quyết trong giáo dục hiện đại. Và nếu muốn đổi mới tận gốc nền giáo dục Việt Nam thì phải bắt đầu từ lớp 1. Thế nhưng, nền giáo dục nước ta hiện không xác định được mục đích cơ bản nên sách giáo khoa toàn sử dụng “vốn tự có” và vì lợi ích của chính họ. PetroTimes đã có cuộc trao đổi với giáo sư về câu chuyện này.

“Có đến đâu làm đến đó”

PV: Gần đây dư luận đang sôi nổi bàn về việc học sinh phổ thông chỉ cần học 9 năm là đủ, giáo sư nghĩ thế nào về vấn đề này?

GS Hồ Ngọc Đại: Học 9 năm hay 12 năm không phải là vấn đề cốt lõi. Thực ra, xưa nay người ta không dám công khai đề cập đến vấn đề của giáo dục Việt Nam là giáo dục vì lợi ích của ai? Tôi có thể khẳng định, ở bất cứ thời đại nào, đó vẫn là câu hỏi mấu chốt nhất.

Vì lợi ích của ai mà cần học 9 năm hay 12 năm? Theo tôi, có hai lợi ích và hai cách xử lý, một là lợi ích của người hưởng giáo dục và lợi ích của những người xung quanh nó bao gồm thầy giáo, gia đình, các nhà quản lý, Đảng và Nhà nước… Nếu lợi ích đó mọi người không nói ra một cách công khai, minh bạch thì sẽ làm giáo dục một cách “ậm ờ”.

Sai lầm hiện nay là không xác định được đâu là mục đích cơ bản của giáo dục vì lợi ích của ai. Vì thế, những người viết sách giáo khoa về cơ bản là vì lợi ích của chính họ. Tất nhiên không ai dám nói ra điều đó, nhưng bản chất là như vậy.

PV: Thế nhưng, người ta đang có ý định viết lại sách giáo khoa. Nói như thế, chẳng hóa ra là chúng ta lại đang thay cái sai bằng một cái sai khác?

GS Hồ Ngọc Đại: Nhiều nhà giáo dục hiện nay đều dùng “vốn tự có” để kiếm sống, tức là luyện đại học rồi phiên phiến dùng kiến thức đó để dạy phổ thông. Viết giáo khoa nhưng họ không nghiên cứu đối tượng mà họ phải phục vụ. Ví như chuyện huy động những người dạy đại học viết sách giáo khoa phổ thông là điều hoàn toàn vớ vẩn vì họ có biết gì về phổ thông, về trẻ em đâu. Với mấy chữ “vốn tự có” họ viết “phiên phiến” đi là thành sách giáo khoa phổ thông. Đã có lần tôi gọi một số người viết sách giáo khoa vừa bất tài vừa thất đức. Và điều nguy hiểm nhất là họ chỉ vì lợi ích của chính họ, bằng “vốn tự có” của họ. Đó là điểm mấu chốt nhất mà có ai dám nói ra đâu? Họ nhân danh nhiều thứ, nhưng bản chất là phục vụ lợi ích cho chính họ. Và khi mà người ta đặt lợi ích của mình lên trên hết thì con trẻ sao còn được coi trọng nữa.

Trước đây, có những người từng làm việc ở cơ quan tôi, sau đó bị loại vì không đủ sức nhưng họ lại là tác giả sách giáo khoa, thậm chí còn là chủ biên. Họ bị loại vì không chịu tu dưỡng nghiệp vụ mới mà chỉ dựa vào vốn liếng kiến thức ít ỏi. Tôi đã cảnh báo chuyện này cách đây mấy chục năm rồi nhưng không ai để ý.

Vừa rồi giáo dục có chương trình giảm tải vì chương trình nặng quá. Nguyên tắc giảm tải về mặt chính trị xã hội là đúng nhưng về mặt nghiệp vụ thì hoàn toàn vớ vẩn, thực thi hoàn toàn sai lầm.

PV: Đúng là luôn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và sự thực thi trong nhiều lĩnh vực ở nước ta. Cụ thể thì sai lầm về mặt thực thi chính sách giảm tải giáo dục thể hiện ở đâu, thưa giáo sư?

GS Hồ Ngọc Đại: Tư duy của họ thô sơ lắm, theo kiểu thấy phần nào nặng quá là họ vứt bỏ luôn. Như kiểu người ta đang gánh thấy nặng quá là nhặt bớt bỏ đi. Lẽ ra cách giảm tải hữu hiệu nhất là không gánh bằng vai mà bằng trí óc ví như chở bằng ôtô. Phải xác định được rằng, những thứ đang gánh không đáng gì cả nhưng vì anh gánh bằng đôi vai thịt, bằng sức cơ bắp thì thấy mệt là phải. Do đó, mục đích của giảm tải không phải là giảm bớt chương trình đang dạy hiện nay mà phải thay đổi toàn bộ cơ cấu cả nội dung, phương pháp, thể chế tổ chức. Nhưng họ lại không đủ sức làm việc ấy vì trong “vốn tự có” của họ không có sẵn. Đó là vấn đề trước đây mọi người chỉ dám nói à ơi nhưng nay, với nền văn minh hiện đại thì phải rạch ròi.

Bây giờ, đổi mới căn bản và toàn diện là phải xác định lại vì lợi ích của ai mà làm. Nếu vì lợi ích trẻ con mà anh điều chỉnh lợi ích bản thân thì quá tốt nhưng ngược lại, anh từ bỏ lợi ích của bọn trẻ, chỉ chăm chăm làm lợi cho bản thân thì là vô đạo đức. Việc dung hòa hai lợi ích hoàn toàn có thể thực hiện được. Anh phải nghiên cứu lợi ích của trẻ con, hỏi chúng nó muốn gì chứ anh không thể áp đặt chúng nó. Chẳng hạn người ta bán hàng hóa ngoài chợ, người buôn bán có lợi nhưng song song đó vẫn phải có lợi ích của người tiêu dùng. Nhưng hàng hóa khác giáo dục, sách giáo khoa với chương trình dạy là một món hàng buộc khách phải mua, dù có lợi hay không có lợi cho họ. Bản chất của sản xuất hàng hóa phải vì lợi ích người tiêu dùng, từ đó mới có quyền mưu cầu lợi ích cho mình. Chỉ tiếc là giáo dục chỉ có một, duy nhất nên nó bắt ta phải dùng, phải nghe và theo.

Bắt học thêm vì lợi ích của ai?

PV: Chúng tôi đã từng hỏi một cô giáo rằng, nếu bây giờ muốn đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục thì phải bắt đầu từ đâu. Cô giáo ấy đã không trả lời được vì cho rằng, có quá nhiều thứ phải làm và đều nên làm cùng với nhau, không phân thứ hạng. Giáo sư nghĩ thế nào về chuyện này?

GS Hồ Ngọc Đại: Cá nhân tôi không nghĩ như vậy. Bây giờ phải điều tra lại lợi ích trẻ con. Trẻ con chấp nhận, chưa chắc anh đã thành công, nhưng trẻ con không chấp nhận nhất định anh thất bại. Trẻ con, gia đình, xã hội không chấp nhận thì rõ ràng là thất bại. Hiện giờ, mọi người buộc phải chấp nhận vì không còn sự lựa chọn thứ hai.

Đã đến lúc mình phải minh bạch mọi chuyện, đã qua rồi giai đoạn mập mờ. Vì vậy, vấn đề căn bản nhất hiện nay là phần lớn những nhóm tác giả hay chủ biên đều vì lợi ích của họ mà hy sinh lợi ích dân tộc, tập thể. Đó là tội ác. Tôi là người trong cuộc nên hiểu rõ, cũng vì vậy khi tôi nói không ai cãi được. Bởi nó là toàn bộ sự thật chưa ai dám nói ra. Bắt con người ta học thêm vì lợi ích của ai, chẳng phải vì lợi ích của những người dạy thêm sao?

PV: Nói như thế có hơi cực đoan không thưa giáo sư? Chẳng lẽ lại không có chút hữu ích nào cho học sinh? Thực tế thì chúng ta cũng có những học sinh học giỏi và theo được các chương trình giáo dục đang bị xem là quá nặng hiện nay?

GS Hồ Ngọc Đại: Họ chỉ vin vào cái cớ, chứ đó không phải căn cứ vào nguyên nhân. Anh phải tôn trọng lợi ích người khác thì lợi ích của anh mới chính đáng được.

Trẻ em 0-2 tuổi, 3-5 tuổi, 6-11 tuổi, 12-18 tuổi, quá 18 tuổi phải có những phương pháp giáo dục khác. Có thể ví trẻ em như hạt giống đem gieo. Hạt giống ấy, khi nảy mầm nó sống khác, khi thành cây, ra hoa, kết trái... nó lại theo một đời sống khác. Như vậy, sự phát triển của con người là tập hợp những giai đoạn phát triển khác nhau về chất. Nếu hiểu được như vậy sẽ tổ chức được hệ thống giáo dục rất tự nhiên, phù hợp với từng lứa tuổi và sẽ thành công. Nếu giáo dục theo kiểu lý thuyết thực dụng, rất có thể sẽ có hiệu quả tức thời, nhưng về lâu dài không thể bền vững được. Và cuối cùng, chúng ta sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm chứ không phải khoa học. Không thể phủ nhận xử lý theo chủ nghĩa kinh nghiệm là hoàn toàn sai, nó cũng có cái đúng nhưng xác xuất đúng rất thấp.

PV: Vậy phương án để đưa đạo đức giáo dục quay trở lại với mục đích cuối cùng và duy nhất của nó là gì?

GS Hồ Ngọc Đại: Có nhiều phương án nhưng khi biểu quyết, đa số tất nhiên đa số sẽ thắng thiểu số. Nếu mọi phương án đều được công khai, dân chúng được quyền chọn lựa kết quả thì sẽ khác. Thế nên, ít nhất phải có hai phương án để nhân dân lựa chọn. Nếu chỉ có một sẽ tạo tư duy theo kiểu độc quyền, là điều hoàn toàn không nên trong giáo dục. Một xã hội dân chủ, văn minh không chấp nhận kiểu tư duy đó. Tôi sang Nga, ra đường không bao giờ nhìn thấy hai người ăn mặc giống nhau. Tôi mong lắm chuyện đó sẽ xảy ra ở nước mình và giờ cũng bắt đầu rồi đấy.

Có nhiều phương án, lựa chọn, khác nhau, nhiều bộ sách giáo khoa và tùy vào nhu cầu để lựa chọn nhưng vẫn có khung chương trình chung. Khi có nhiều phương án chọn lựa anh sẽ coi trọng người dùng. Không có độc quyền nào tốt cả, có thể anh cho phương án này là tốt nhất, nhưng quan trọng là tốt nhất với những ai, dân không phải là tất cả. Ví dụ mọi người nói, ăn sữa là tốt, nhưng trẻ em nông thôn có cần ăn sữa đâu vẫn tốt đấy thôi. Họ đã lựa chọn, tất nhiên họ buộc phải chấp nhận sự lựa chọn đó.

Theo tôi, ít nhất là phải xóa bỏ cơ chế độc quyền, từ đó, cho ra đời nhiều bộ sách, nhiều giải pháp khác nhau để thầy trò lựa chọn.

PV: Nhưng thưa giáo sư, liệu có phải ai cũng có đủ trí, lực để lựa chọn cho mình một phương án tối ưu, một bộ sách hợp lý?

GS Hồ Ngọc Đại: Trình độ dân trí sẽ ngày một cao hơn. Tôi dạy trẻ con 3 điều, một là phải biết yêu đất nước, hai là phải có trách nhiệm với những việc mình làm, thứ ba là biết chia sẻ với người khác, biết chấp nhận sự khác biệt của người khác. Từ nhỏ phải có trách nhiệm với những việc mình làm để sau này ra xã hội mới có trách nhiệm với những điều lớn lao hơn.

Giáo dục muốn đổi mới phải bắt đầu từ lớp 1. Chẳng hạn, những em học toán giỏi đáng được đề cao, trong khi những em quét nhà giỏi cũng nên được khen chứ.

Mọi người khuyên nên học tập Ngô Bảo Châu nhưng tôi can, không để làm gì cả vì có người rất giỏi điều này nhưng lại rất kém những việc khác. Sống trong xã hội hiện đại phải biết chia sẻ, và phải biết chấp nhận. Như vậy sẽ hài hòa hơn để tránh tư duy ích kỷ. Trong bữa ăn, có thể món này anh không thích nhưng tôi thích thì sao, anh không thể áp đặt gu ăn uống của anh vào tôi được. Chúng ta sống trong quan hệ một chiều bị ảnh hưởng nhiều bởi tư duy vua đã nói thì tôi phải nghe, nhưng xã hội hiện đại cởi mở hơn. Dân chủ sinh ra và lớn lên từ trong lòng cuộc sống. Ngày xưa, bố mẹ nói con phải nghe vì ruộng của bố, đất của bố, con không nghe thì chết đói nhưng bây giờ con có lương, có thể tự sống. Trong đời người không có gì quan trọng hơn sự sống của người ta, lợi ích đó là cơ bản nhất.

Vì vậy, hiện nay khái niệm cần tuyên truyền là về lợi ích, nó khác hoàn toàn với vụ lợi chỉ biết đến lợi ích cá nhân. Con người ngày càng khôn ngoan hơn và khi đó họ sẽ ý thức rõ hơn về lợi ích. Ra chợ mặc cả giá cũng chỉ vì lợi ích, buôn bán giành giật cũng là lợi ích đấy thôi.

Mọi người nên nhớ, xã hội hiện đại lấy lợi ích làm nguyên tắc cơ bản . Xã hội hiện đại là xã hội chuyên nghiệp, nghĩa là làm việc gì cũng có lợi ích cao nhất. Bây giờ người ta khen nhau là có nghiệp vụ, làm ngân hàng có nghiệp vụ, nhà báo có nghiệp vụ, anh chữa xe cũng có nghiệp vụ.

Bây giờ anh đào tạo thế nào họ cũng phải chấp nhận nhưng nếu có nhiều phương án thì anh buộc phải đào tạo theo cách khác mới cạnh tranh được.

PV: Theo như giáo sư nói, thì có nghĩa điều quan trọng nhất hiện chúng ta phải làm là xác định rõ mục tiêu của nền giáo dục rồi sau đó từ mục tiêu sẽ có các yêu cầu?

GS Hồ Ngọc Đại: Xã hội sẽ tự điều chỉnh để thích nghi, bất cứ cá nhân nào không thể muốn mà được. Xu hướng xã hội là chuyên nghiệp hóa. Xã hội nông nghiệp, các cá nhân đều hao hao nhau nhưng trong xã hội hiện đại các cá nhân hoàn toàn khác nhau.

Hiện nay, có những trường thực sự có chất lượng, vì xã hội đòi hỏi như thế. Trong xã hội cũ, các cá nhân hao hao nhau như củ khoai tây nhưng xã hội hiện đại không bao giờ có hai người giống nhau. Chuyện đó không phải lỗi của ai cả mà là đặc trưng mang tính thời đại. Mọi người nên tuyên truyền trong xã hội ý thức về lợi ích. Những kẻ sử dụng “vốn tự có” sinh sống trên lợi ích của trẻ em thì nên và cần loại bỏ.

Ngày trước đã có chuyện một thứ trưởng từng bắt các giáo viên không được bỏ một dấu phẩy trong sách giáo khoa. Quyền lực có sức mạnh, nhưng cũng chịu tác động ngược của sức mạnh đó. Sự tuân phục quyền lực với con người hiện đại lại không phải là chủ yếu. Ngoài mặt có thể như thế nhưng trong bụng lại khác, mà quan trọng lại là cái trong bụng. Hỏi ai đồng ý thì giơ tay sẽ giơ tay hết nhưng trong bụng lại không đồng ý.

Cái quan trọng của giáo dục là phải xác định được toàn bộ nền giáo dục phục vụ cho con trẻ, tất cả vì lợi ích của con trẻ. Làm được thế thì sẽ thành công.

Trong giai đoạn 2013-2015, nhiệm vụ chủ yếu của chương trình hành động là hoàn thiện đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trình Ban Cán sự Đảng, Chính phủ; đổi mới quản lý giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục; tăng nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục; tăng cường hỗ trợ phát triển giáo dục đối với các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách xã hội; phát triển khoa học công nghệ và khoa học giáo dục, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo.

Giai đoạn 2 (2016-2020), thực hiện thống nhất đầu mối quản lý và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về giáo dục. Triển khai thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục nghề nghiệp, đại học và một số nhiệm vụ của giai đoạn 1 với các điều chỉnh bổ sung; tập trung củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục; tiếp tục thực hiện đề án nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếp tục thực hiện đề án quy hoạch phát triển nhân lực, chương trình phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm. Tham mưu với Chính phủ, Quốc hội xây dựng Luật Nhà giáo…

Thái Linh - Thanh Huyền (nguồn: Petrotimes)

Tin bài khác:

Tài chính Marketing: iPhone hay “Ai lúa”?

Thuong hieu Marketing[Học marketing] Người Mỹ chỉ cần bán một chiếc điện thoại iPhone cũng đủ mua một tấn gạo của nông dân Việt Nam. Nước ta nên tập trung đầu tư vào công nghiệp hay nông nghiệp?

Tại buổi tọa đàm “iPhone hay Ai lúa - Lựa chọn phát triển bền vững cho Việt Nam”, do Mạng lưới Thế Hệ Xanh tổ chức phối hợp với EuroCham và Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace tổ chức ngày 11/5, TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn (IPSARD) đã chia sẻ những trăn trở của ông về câu chuyện này.

Ông nghĩ với Việt Nam, công nghiệp hay nông nghiệp quan trọng hơn?

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đến cả nước Mỹ cũng phải bán iPhone để mua... gạo. Trong khi Việt Nam xuất khẩu lúa gạo để mua iPhone, không chỉ nhập riêng iPhone mà còn rất nhiều thứ khác.

Rất nhiều người bảo rằng nên sản xuất iPhone bán đi để mua gạo, thay vì trồng lúa. Thế nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng, những năm qua các nước ở Đông Nam Á rơi vào khủng hoảng tài chính, công nghiệp và dịch vụ đi xuống, nhưng nông nghiệp vẫn tăng trưởng.

Ở Việt Nam chỉ duy nhất một ngành xuất siêu, và xuất siêu năm sau luôn cao hơn năm trước. Đúng là nếu muốn tiến bộ, văn minh, thì phải thúc đẩy công nghiệp hóa, nhưng liệu những gì đang diễn ra có đúng hướng hay không?

"Giá nông sản thấp như con dao hai lưỡi, đối với toàn dân là tốt, nhưng đối với nông dân lại bị thiệt. Nhìn vào thắng lợi của nông nghiệp, lại càng thấy đau thêm cho bà con nông dân."TS. Đặng Kim Sơn

Công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh đưa đất nước ta phát triển ngoạn mục trong những năm gần đây. Nông nghiệp từ đóng góp khoảng 25% trong GDP, giảm xuống chỉ còn 19% vào năm 2010. Tuy nhiên, trong năm 2012 vừa qua, tỷ trọng nông nghiệp lại vọt lên 21% trong GDP, không phải vì nông nghiệp tăng trưởng nhanh, mà vì công nghiệp và dịch vụ đi xuống.

Chính nông nghiệp là bệ đỡ cho phát triển công nghiệp hóa trong những năm qua, thế nhưng công nghiệp hóa lại phát triển ì ạch, đang tạo nên gánh nặng đè lên nông nghiệp. Khi mới bước vào công nghiệp hóa, Việt Nam phát triển rất mạnh, đi rất nhanh đến cuối đường băng để chuẩn bị cất cánh.

Thế nhưng, chúng ta có quả tạ khổng lồ khiến không thể cất cánh được, đó là đô thị quá tải, công nghiệp và dịch vụ kém hiệu quả. Nông nghiệp cũng vì đó mà bị mất sức.

Năm vừa qua, sản lượng lương thực, chăn nuôi đều tăng, giúp kìm hãm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức thấp nhất trong 8 năm trở lại đây. Nhiều ý kiến nhận định, CPI thấp là nhờ điều hành chính sách kinh tế vĩ mô tốt, song theo tôi có hai yếu tố khiến CPI thấp, một mặt là do công nghiệp suy trầm, dẫn tới sức mua giảm, nhưng quan trọng hơn cả là giá nông sản rẻ, đóng góp lớn kéo thấp CPI.

Tuy vậy, giá nông sản thấp như con dao hai lưỡi, đối với toàn dân là tốt, nhưng đối với nông dân lại bị thiệt. Nhìn vào thắng lợi của nông nghiệp, lại càng thấy đau thêm cho bà con nông dân.

Phát triển công nghiệp hóa, thì nông nghiệp được, mất những gì, thưa ông?

Công nghiệp hóa là xu hướng chung trên thế giới, các nước đã thành công với công nghiệp hóa thường diễn ra theo một kịch bản là, ban đầu công nghiệp hóa lấy nguồn lực từ nông nghiệp, sau khi đã thành công thì công nghiệp sẽ quay lại “trả nợ”, đền bù cho nông nghiệp dưới hai hình thức: tạo việc làm cho lao động nông thôn, và trợ cấp cho nông nghiệp.

Nước Mỹ có diện tích đất rộng rãi, điều kiện rất tốt cho phát triển nông nghiệp, thế nhưng nông nghiệp chỉ chiếm 5% GDP, và chiếm 2% lao động toàn xã hội. Nhờ nguồn thuế khổng lồ của các ngành khác, họ dành 10% để bù đắp cho nông nghiệp. ở Nhật Bản, giả sử một bát cơm có giá 100 đồng, thì 60% là do nhà nước bỏ ra, phần của nông dân bỏ ra chỉ 30-40%.

Còn chúng ta, nguồn thuế từ công nghiệp không đủ cho ngân sách, thì chưa thể mong bù đắp cho nông nghiệp. Chúng ta đang mắc kẹt ở chỗ này. Nếu mắc kẹt quá lâu thì nông dân kiệt sức.

Ông nhận định bức tranh nông thôn Việt Nam những năm tới như thế nào?

Hầu hết lao động nông thôn chúng ta gọi theo kiểu mỹ miều là lao động “không chính thức” - loại này hiện chiếm tới 70% lao động ở Việt Nam.

Thực chất họ bị đẩy ra đường, làm những công việc không ký hợp đồng, không bảo hiểm, không đào tạo, không đóng thuế, với những lớp người “mới” đó là xe ôm, là đào vàng, là phu hồ, là dọn vệ sinh...

"Ở nước ta, tuy nông dân chiếm 70% dân số, nhưng đây lại là một khối câm lặng khổng lồ, vì họ không được bàn bạc. Có mỗi chuyện ai tạm trữ lúa gạo mà mấy bộ, ngành tranh luận với nhau mãi không xong." TS. Đặng Kim Sơn

Công nghiệp đã không tạo được việc làm cho đại bộ phận nông dân, thì nông dân đành phải trung thành với sản xuất nông nghiệp. Trong khi, nông dân sản xuất ra hạt lúa củ khoai phải đương đầu với nhiều thứ, đó là mất công bằng trong thương mại thế giới. Không chỉ vì hầu hết các nước công nghiệp đều trợ cấp cho nông nghiệp của họ, mà còn vì họ lập rất nhiều hàng rào thương mại để ngăn chặn thương mại tự do của các nước nghèo.

Chẳng lẽ chúng ta không thể vượt qua được khúc kẹt này?

Các nước đã tiến hành công nghiệp hóa từ cách đây 200 năm thì họ dễ dàng thành công. Chúng ta công nghiệp hóa chậm sẽ trở thành “trâu chậm uống nước đục”.

Trong số khoảng 20 nước trên thế giới bắt đầu công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ 20, đến nay chỉ có 4-5 nước công nghiệp hóa thành công. Chúng ta nên học kinh nghiệm từ họ.

Bài học là, trong quá trình phát triển, phải gắn kết nông thôn với đô thị, nông nghiệp với công nghiệp. Họ luôn tập trung vào nông thôn, trao quyền cho nông dân ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa. Ở nước ta, tuy nông dân chiếm 70% dân số, nhưng đây lại là một khối câm lặng khổng lồ, vì họ không được bàn bạc. Có mỗi chuyện ai tạm trữ lúa gạo mà mấy bộ, ngành tranh luận với nhau mãi không xong.

Chính sách của chúng ta không tạo ra được điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho người dân nông thôn. Ở các nước, như Hàn Quốc, Nhật Bản họ để cho nông dân bàn bạc, quản lý hết là xong. Nhà nước tập trung cao độ vào đào tạo nông dân, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tập trung phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là chế biến.

Theo Chu Khôi (nguồn Thời Báo Kinh Tế Việt Nam)

Tin Bài Khác:

Marketing là gì: Vì sao marketing Việt Nam và Thế giới thoái trào?

Marketing Research Viet Nam[Học marketing] Marketing là gì? Marketing là tìm hiểu khách hàng của mình là những ai, họ cần gì và muốn gì, và làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của họ đồng thời tạo ra lợi nhuận:·cung cấp sản phẩm và/ hoặc dịch vụ mà khách hàng cần.

Marketing là hiểu khách hàng của bạn!

Khách hàng là yếu tố có ý nghĩa sống còn đối với công việc kinh doanh của bạn. Nếu bạn không cung cấp cho khách hàng thứ mà họ cần với giá phải chăng, họ sẽ tìm chỗ khác để mua hàng. Còn nếu khách hàng được đáp ứng tốt thì họ sẽ thường xuyên quay lại mua hàng của bạn. Họ sẽ tuyên truyền cho bạn bè và những người khác về doanh nghiệp của bạn. Đáp ứng được khách hàng bạn sẽ tăng được doanh số và lợi nhuận. Bạn hãy ghi nhớ rằng nếu không có khách hàng, kinh doanh sẽ thất bại.
  • Chiến lược giá khách hàng chấp thuận chi trả;
  • Chiến lược sản phẩm/ dịch vụ đến với khách hàng tiện lợi; và
  • Chiến lược quảng bá thông tin và thu hút khách hàng.

Nghiên cứu marketing: là tìm hiểu khách hàng

Việc thu thập thông tin về khách hàng được gọi là Nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu marketing rất quan trọng khi lập kế hoạch cho bất kỳ việc kinh doanh nào. Có thể đặt ra rất nhiều câu hỏi:
  • Doanh nghiệp của bạn cần những loại khách hàng nào? (Họ là nam giới, phụ nữ hay trẻ em?) Và khách hàng tiềm năng của bạn.
  • Khách hàng cần loại hàng hoá hoặc dịch vụ thế nào? (kích cỡ? màu sắc? chất lượng? giá cả?)
  • Khả năng chi trả của khách hàng cho từng sản phẩm/dịch vụ của bạn?
  • Khách hàng của bạn sống ở đâu? Họ thường mua hàng ở đâu và khi nào?
  • Họ mua hàng thường xuyên không: mua hàng ngày, hàng tháng, hay hàng năm?
  • Số lượng khách hàng của bạn có tăng lên không?
  • So với trước đây số lượng khách hàng tăng lên hay có xu hướng giữ nguyên?
  • Tại sao khách hàng lại mua một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó?
Những câu trả lời xác thực sẽ giúp bạn quyết định được ý tưởng kinh doanh của mình có giá trị hay không. Nghiên cứu thị trường có thể được tiến hành theo nhiều cách khác nhau.

Làm thế nào để biết khách hàng tiềm năng?

  • Dự đoán dựa trên hiểu biết sẵn có: Nếu như bạn đã có hiểu biết về một ngành kinh doanh nào đó bạn có thể dựa trên những kinh nghiệm đó để đưa ra một vài dự đoán hữu ích.
  • Sử dụng các nguồn thông tin trong ngành: Thông thường bạn có thể thu được thông tin về quy mô thị trường từ các cơ sở kinh doanh trong ngành. Việc nghiên cứu quy mô thị trường hàng hoá, nhu cầu, khiếu nại của khách hàng cũng không phải là khó. Hãy tham vấn các nhà phân phối chính về mặt hàng đó (các cơ sở bán buôn), xem các tài liệu chỉ dẫn về kinh doanh, báo chí thương mại...
  • Tham khảo ý kiến các khách hàng dự kiến được lựa chọn theo mẫu: Bạn nên tham khảo ý kiến càng nhiều khách hàng càng tốt. Hãy tìm hiểu xem có bao nhiêu người muốn sử dụng sản phẩm mà bạn sẽ bán.
  • Nghiên cứu marketing giống như điệp viên 007: bạn phải lần ra đầu mối để khám phá bí mật. Có thể bạn sẽ nhận ra rằng công việc kinh doanh không đủ lượng khách hàng cần thiết. Nếu đúng như vậy, hãy chuyển hướng nghĩ tới một việc kinh doanh khác.
Marketing là những việc làm trên không phải cứ đi tiếp thị và tiếp thị,... Làm việc trên ngọn mà thiếu nền tảng, đó là lý do marketing thoái trào + ảnh hưởng suy thoái kinh tế. Hãy rút kinh nghiệm để thúc đẩy ngành marketing.

Marketing Research 1
Biểu đồ marketing Việt Nam từ năm 2004 đến nay
Marketing Research 2
Biểu đồ marketing Thế giới từ năm 2004 đến nay

Theo Marketing online

Friday, May 10, 2013

Việt Nam: Uống bia nhất trái đất và hạnh phúc nhì hành tinh?

[Thư viện marketing] Trong khi các ngành sản xuất khác điêu đứng thì bia rượu lên ngôi. Kinh tế suy thoái nhưng bia được bán chạy như... bia. Tháng 4.2013, sản xuất bia tại Việt Nam ước đạt 233,4 triệu lít, tăng 15% so với tháng 4.2012. Kể ra, sự thành công này cũng rất ấn tượng.

Nhưng ấn tượng hơn là khi đại diện của hãng Heineken đưa ra dự báo chắc nịch, đến năm 2015, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ bia lớn nhất thế giới. Mới năm trước, thị trường của nước nghèo Việt Nam đã tiêu thụ 3 tỉ lít bia, tương đương 3 tỉ USD. Nếu trở thành nhà vô địch uống bia thế giới, đất nước này không biết mất bao nhiêu tỉ đô la cho loại nước có men này.

Các nhà sản xuất và kinh doanh bia ắt là rất khoái vì hội chứng mê uống bia của người Việt, đặc biệt là các quý ông. Nhà sản xuất trong và ngoài nước kiếm bộn tiền ở quốc gia nghèo như Việt Nam không chỉ là do tài kinh doanh của họ mà do đa số người dân “máu” uống bia.

Cùng với con số 3 tỉ lít bia và danh hiệu vô địch bia bọt toàn cầu là con số tai nạn giao thông vào loại hàng đầu thế giới. Khó có quốc gia nào thí mạng người cho tai nạn giao thông “hào phóng” như xứ sở có chỉ số hạnh phúc đứng thứ nhì thế giới là Việt Nam ta.

Cùng với 3 tỉ đô la Mỹ trả cho những cơn phiêu bia bọt là hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng phải bỏ ra để nhập thuốc điều trị cho các nạn nhân bị thương tật, tai nạn giao thông và các loại bệnh tật do bia rượu gây nên. Ba tỉ lít bia một năm đủ để phá đi rất nhiều lá gan, bao tử của không ít người. Sức khoẻ của mỗi cá nhân không chỉ là tài sản của riêng họ mà là vốn liếng của cả xã hội. Và xin thưa, vốn liếng đó đã bị suy kiệt tỉ lệ nghịch với con số tăng trưởng của ngành sản xuất bia hàng năm.

Không biết Quỹ kinh tế mới có nhầm lẫn gì không khi xếp hạng Việt Nam vào hàng thứ 2 hạnh phúc trên hành tinh này theo các tiêu chí hài lòng với cuộc sống, tuổi thọ trung bình và dấu chân sinh thái. Nếu chỉ tính riêng uống bia rượu, hút thuốc lá và an toàn vệ sinh thực phẩm, dân Việt Nam khó có thể thọ hơn dân nước khác. Còn hài lòng với cuộc sống hay không khi ra đường là có thể bị toi mạng vì tai nạn giao thông, chưa kể trăm thứ bức xúc khác?

Không thể tự hào chuyện uống bia hay ăn mì gói đứng vào hàng “top” thế giới. Nếu như Việt Nam sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm đem lại lợi ích khác được như bia thì hay biết mấy!

Theo Lê Chân Nhân - Nguồn: Dantri
Tin bài khác: