Sunday, February 24, 2013

Phá giá Đồng Việt Nam: Cân nhắc chọn phương án lợi nhất

[Thư viện marketing] Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ phải trả giá nhất định, song Ngân hàng Nhà nước không nên khẳng định chắc chắn sẽ không làm điều này. Không nên nói ‘tôi không điều chỉnh sẽ tốt hơn’ bởi người đề nghị điều chỉnh tỷ giá họ cũng có lý của họ.

TS Lê Đăng Doanh đã chia sẻ như vậy trước thông tin Ngân hàng Nhà nước khẳng định không có chuyện phá giá đồng Việt Nam và sự bất ổn tỷ giá trong mấy ngày qua.

Nên cân nhắc làm từng bước

PV: - Câu chuyện có hay không sự phá giá đồng Việt Nam mấy ngày qua được dư luận bàn đến nhiều. Ý kiến của cá nhân ông như thế nào về vấn đề này?


TS Lê Đăng Doanh: - Lạm phát của năm 2012 là 9,02%, như vậy so với tháng 12 năm 2011 tăng 6,31% nhưng tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la chỉ thay đổi khoảng 2%. Như vậy tức là trong năm 2012 đồng Việt Nam có lên giá so với đồng đô la 7% (nếu lấy con số 9,02%).

Vì vậy một số chuyên gia nói rằng đồng Việt Nam lên giá so với đồng đô la thì bất lợi đối với xuất khẩu là họ có lý. Cho nên cách nhiều người đề nghị nên có sự điều chỉnh ở mức độ vừa phải (khoảng 4%) cũng là hợp lý.

Mới đây nước Nhật cũng đã giảm giá đồng Yên khoảng 1% để họ có thể tăng xuất khẩu được. Như vậy nước Việt Nam có thể điều chỉnh tỷ giá được vào một thời điểm thích hợp với một mức độ thích hợp. Tôi nghĩ cách làm không nên quá đột ngột (không nên làm giống như năm 2011, giảm giá 1 lúc 9,2% giá trị tiền Việt Nam so với đồng đô la).

Theo tôi nên làm từng bước, mỗi bước nhỏ một và mỗi ngày thay khoảng 50 đồng để cho doanh nghiệp và người dân có thể làm quen với sự thay đổi đó. Cách làm này tôi nghĩ sẽ tốt hơn.

PV: - Vâng thưa ông, nhưng hiện nay Ngân hàng Nhà nước vẫn khẳng định sẽ không thay đổi tỷ giá và gợi ý của các chuyên gia kinh tế chỉ mang tính chất tham khảo. Theo ông nếu không ‘phá’ giá Việt Nam đồng thì có cách nào để ổn định tình hình tài chính và cân đối cán cân xuất nhập khẩu?

TS Lê Đăng Doanh: - Tôi nghĩ rằng việc điều chỉnh tỷ giá cũng phải trả giá nhất định và không điều chỉnh cũng vậy. Việc khẳng định không điều chỉnh như vậy sẽ có vấn đề ảnh hưởng đến xuất khẩu và các doanh nghiệp sẽ phải gồng mình lên chịu.

Tôi nghĩ rằng, không điều chỉnh tỷ giá không có nghĩa là tốt hơn có điều chỉnh. Vấn đề ở đây là cần xem xét trước diễn biến của thị trường thì nên ứng xử như thế nào. Ngân hàng Nhà nước không nên nói “tôi không điều chỉnh là tốt hơn điều chỉnh” bởi người nói điều chỉnh tỷ giá họ cũng có lý của họ.

PV: - Nhưng ngay khi mới chỉ có tin đồn mà tỷ giá trong tuần đã rối. Người dân đổ xô đi mua đô la và thị trường thể hiện sự ‘bất lực’ của sự bình ổn giá. Liệu khi việc điều chỉnh được lựa chọn, những kịch bản nào có thể xảy ra thưa ông?

TS Lê Đăng Doanh: - Tôi nghĩ rằng không phải do việc các chuyên gia đưa ra ý kiến phá giá Việt Nam đồng mà có nhiều yếu tố. Có thể do tin đồn bắt ông Chủ tịch Trần Bắc Hà, rồi sau nghỉ Tết nhiều con em đi học trở lại, các gia đình phải mua đô la để cho con đi học.

Tôi muốn nhắc lại biện pháp nào cũng có sự trả giá. Nếu điều chỉnh thì nợ công sẽ tăng lên, nhập siêu sẽ có lạm phát. Nhưng nếu làm tốt xuất khẩu sẽ tăng lên. Do vậy cần phải tính toán kỹ lưỡng để thấy phương án nào có lợi nhất. Không nên khẳng định bất cứ điều gì bởi xét về mặt kinh tế học là không hợp lý lắm.

Chưa điều chỉnh thì phải có đủ lực về ngoại tệ

PV: - Vâng, vậy trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước không chọn giải pháp phá giá nhẹ Việt Nam đồng thì theo ông cần phải làm gì để bình ổn tỷ giá thị trường?

TS Lê Đăng Doanh: - Nếu như mình có tiềm lực, chưa cần điều chỉnh thì có thể dùng ngoại tệ để bình ổn tỷ giá. Điều này chỉ Ngân hàng Nhà nước mới biết được đâu là lựa chọn tốt nhất.

PV: - Thưa tiến sĩ, Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định thông qua đề án tái cơ cấu kinh tế. Mục tiêu tổng thể của đề án này là thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo lộ trình và bước đi phù hợp để đến 2020 cơ bản hình thành mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Ông đánh giá như thế nào về tính khả thi của Đề án này?

TS Lê Đăng Doanh: - Tôi thấy Đề án khá toàn diện, sâu sắc và công phu. Đề án đã được thảo luận rất nhiều lần. Tuy nhiên điều quan trọng nhất hiện nay là thực hiện như thế nào, ai thực hiện. Bởi vì thực hiện Đề án này sẽ đụng chạm đến lợi ích của một số nhóm người. Như vậy việc thực hiện có thể sẽ gặp khó khăn. Nếu quyết tâm thực hiện phải cải cách bản thân bộ máy.

Hiện nay rất nhiều đại gia giàu lên chỉ nhờ quen biết nhau. Giàu lên nhờ nhận được miếng đất hoặc mua được mảnh đất rẻ đón đầu dự án… Những người này không nhận được sự kính trọng bởi vì họ không giàu lên bằng năng lực thực sự - giống như Bill Gate giàu lên vì có phần mềm đóng góp cho nhân loại là không ai có thể phủ nhận được. Hay có đại gia đốn hết rừng ở Tây Nguyên rồi lại sang đốn rừng ở Lào, Mianma…

Vấn đề bây giờ là làm thế nào để chuyển động lực tới những người, doanh nghiệp thực sự muốn áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả năng suất lao động đóng góp cho đất nước. Điều đó muốn làm được phải có chế độ thuế, phí khác nhau.

Phải có sự thay đổi trong chính sách để cho những người nào chỉ có trông mong vào quan hệ sẽ không dễ dàng giàu lên như trước đây nữa. Điều đó là cần phải làm nhưng thực sự không phải là dễ dàng.

Thứ ba nữa là tái cấu trúc thì phải có nhiều tiền. Hiện nợ của các tập đoàn kinh tế Nhà nước, các tổng công ty lên tới 1 triệu 336 nghìn tỷ đồng rồi. Ai sẽ là người bù ra số tiền này để giải quyết ‘hậu quả’.

PV: - Đây là câu chuyện lớn và cũng không dễ thực hiện. Soi lại một ví dụ nhỏ đó là sự quyết tâm của Ngân hàng Nhà nước khi siết vàng miếng với kỳ vọng sẽ kéo giá vàng trong nước sát với giá thế giới. Thế nhưng đến nay vẫn chỉ là ‘ước vọng’ và thực tế là giá vàng đang chênh ở mức kỷ lục lên tới trên 5 triệu đồng. Do vậy những việc lớn hơn liệu có là quá sức, thưa tiến sĩ?

TS Lê Đăng Doanh: - Vấn đề là cần phải xem xét lại cơ chế hiện nay. Ngân hàng Nhà nước vốn đã đưa ra những tuyên bố rất mâu thuẫn. Có lúc thì nói rằng không quan tâm đến việc điều khiển giá vàng, lúc thì nói sẽ đưa giá vàng trong nước sát với thế giới.

Vì mỗi lúc nói một kiểu như vậy và cho đến nay cũng chưa thấy có dấu hiệu gì để đảm bảo có thể làm được việc kéo sát giá vàng trong nước bằng với giá thế giới. Vì vậy tôi nghĩ rằng dù có làm gì thì cũng nên nhìn vào hành động chứ không phải là lời nói.

Xin trân trọng cảm ơn tiến sĩ!

Bích Ngọc (thực hiện)
Nguồn: Datvietonline

Tin bài khác:

Wednesday, February 20, 2013

Alan Phan nói chuyện Tiền

[Học marketing] Với 43 năm kinh nghiệm kinh doanh tại Mỹ và Trung Quốc, việt kiều - Tiến sỹ Alan Phan đã có những câu chuyện khá thú vị xung quanh việc kiếm tiền và cách tìm niềm vui và sự nghiệp qua việc kiếm tiền...

Câu chuyện thứ nhất: Trắng tay là lúc động não nhiều nhất

Trong 43 năm bươn chải cuộc sống với nhiều thăng trầm đã đưa tôi trải qua nhiều cung bậc cảm xúc. Không phải lúc nào tôi cũng có tiền. Thậm chí có những thời gian tôi trắng tay như hồi năm 1975, tôi cùng vợ con quay lại Mỹ lần 2 khi trong túi chỉ vẻn vẹn 400USD. Hay như năm 1983, tôi gần như mất hết vốn trong một dự án bất động sản, và tôi đã ra khỏi nhà chỉ với một valy quần áo!

Lúc đó, tôi không suy nghĩ nhiều về vấn đề mình đang đối diện mà luôn nghĩ tới con đường tôi sẽ phải đi trong tương lai. Mình không có gì thì phải bắt đầu ra sao. Tôi nhận thấy đó là những lúc tôi thường hăng hái và động não nhiều nhất với khát vọng vượt qua tình thế gay go này. Còn khi tôi có tiền có khi là là những lúc tôi hay buồn bã nhất vì cảm thấy cô đơn, buồn chán. Với tôi, hành trình vượt qua nghèo khó đôi khi còn lý thú hơn là sống để mua sắm. Vì thế, tôi luôn luôn tìm cách thay đổi mình để cho cuộc sống thú vị hơn, cũng như để tìm thấy sự đam mê của mình trong công việc.

Câu chuyện thứ hai: Từ chức vì muốn phiêu lưu

Từ 1/1/2013, tôi sẽ từ chức vị trí Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa. Viasa là một quỹ riêng tư của 3 gia đình thành lập từ 2002. Có thể nói doanh thu trong 10 năm hoạt động của Viasa không đến nỗi nào nhưng tôi nhận thấy bắt đầu đang có sự yếu kém đi vì lối quản trị bảo thủ và chiến thuật trọng sự an toàn, không thích hợp lắm trong một môi trường nhiều thay đổi và cần sáng tạo. Bên cạnh đó, Virus của căn bệnh “làm vừa đủ để khỏi bị đuổi” đã lan truyền nặng và mục tiêu vì doanh thu hay lợi nhuận đã bị bỏ sót để chăm chú vào lợi ích cá nhân.

Tất cả những điều đó đã dập tắt niềm đam mê, hưng phấn của tôi như lúc đầu ở đây và nó đã khiến tôi quyết định chuyển hướng. Hơn nữa, việc lựa chọn thời điểm thay đổi là rất quan trọng. Sớm hay muộn vài tháng cũng có thể làm mất cơ hội kiếm tiền. Tôi nhìn năm 2013 là sự khởi đầu của một hành trình mới với những cuộc phiêu lưu, khám phá đầy thú vị…

Câu chuyện thứ ba: Thụ động và lười biếng sẽ “trói” giới trẻ Việt Nam

Tôi đã nói rất nhiều với các bạn trẻ ngày hôm nay về một hình ảnh: Trong một thân xác con người, phần từ cổ xuống dưới là thể hiện những cơ bắp. Những người sử dụng cơ bắp này để kiếm tiền thì giỏi nhất ở nước Mỹ cũng chỉ kiếm được khoảng 20-25USD/giờ. Trong khi đó, phần từ cổ trở lên là trí tuệ thì dường như là vô giới hạn. Đó mới là tài sản mềm, là giá trị thực sự mà tôi muốn các bạn trẻ ngày nay hướng tới để thích nghi với một nền kinh tế đang vận chuyển theo hướng dựa trên tri thức, chứ không phải dựa trên những tài sản cứng.

Nhân đây tôi cũng chia sẻ một thực tế rằng các bạn trẻ Việt Nam lớn lên trong một xã hội tương đối khép kín, tư duy khó chấp nhận những gì mới mẻ, những gì có thể nói là thách thức đối với những suy nghĩ cổ truyền. Họ đóng mình trong một cái hộp và cứ loay hoay trong đó không thoát ra được. Tôi luôn nhắc thế hệ này phải nghĩ những gì đang diễn biến ngoài cái hộp. Bên cạnh đó, người trẻ Việt Nam khá thụ động, có thể nói là lười biếng, ngay cả khi so sánh với các láng giềng ASEAN.

Tôi đi dạy ở nhiều nơi và thấy sinh viên Châu Á nói chung thụ động, không muốn động não nhiều để đi tìm tài liệu, góc cạnh, tư duy…. Đa số các sinh viên ở bên Mỹ thích đọc, lúc nào trên tay cũng có quyển sách hay máy tính thì sinh viên Việt Nam có vẻ là thích cà phê, tán gẫu…

Câu chuyện thứ tư: Con 14 tuổi cho đi làm để kiếm tiền mua xe hơi

Ở nước ngoài, bố mẹ để con cái tự tư duy về cách suy nghĩ, tìm học. Do đó, những đứa nào cảm thấy thích thú trong việc kiếm tiền thì có thể kinh doanh rất sớm. Còn những đứa khác thì cũng tự lập hơn so với những bạn cùng trang lứa ở Việt Nam.

Ví dụ, khi con trai tôi lên 14 tuổi, nó ước mơ có một chiếc ô tô cho riêng mình. Dĩ nhiên, tôi có thể sẵn sàng mua cho con một chiếc xe. Nhưng dù mới 14 tuổi, cậu ta đã thực hiện một kế hoạch rất nghiêm túc, đó là buổi sáng đi bán báo, buổi chiều đi làm nhân công quét dọn trong một siêu thị. Sau 2 năm, thằng bé đã dành đủ tiền mua lại chiếc xe Mustang cũ với giá 5.000USD vừa đúng thời gian cậu ta đủ tuổi để lái xe ở Mỹ (16 tuổi). Số tiền này dù không lớn …nhưng thằng bé rất quý trọng chiếc xe đầu đời vì đây là tiền mồ hôi nước mắt mà nó tự kiếm được. Đó là tinh thần của những đứa trẻ được ảnh hưởng từ nền giáo dục Âu Mỹ, tự do và tự lập.

Câu chuyện thứ năm: Kiếm tiền mà không nghĩ đến tiền

Để kiếm tiền, theo tôi, giới trẻ hãy quên chuyện nghĩ đến tiền mà thay vào đó là hãy nghĩ tới công việc của mình cùng với sự đam mê, nhiệt huyết cho công việc đó. Đến lúc nào anh đã làm được một việc gì thành công, một việc gì giỏi, hoặc một kiến thức chuyên sâu ở bất cứ ngành gì thì tiền sẽ tự tìm tới. Hãy tạo ra những thành quả tốt nhất bằng tất cả những kỹ năng có thể.

Sau cùng là giữ niềm tin vào chiến thắng. Tiếp tục thẳng tiến, đừng sợ sệt hay rụt rè. Chúng ta còn cả một thế giới mới để chinh phục.

Theo Lan Hương
Nguồn: Dân trí

GS Hoàng Tuỵ: Lực cản sự phát triển của người Việt

[Học marketing] Cần nhận thức rõ những điểm yếu trong con người Việt Nam, tìm ra nguyên nhân để từ đó có cách hạn chế và loại trừ.

Để cải thiện thực trạng vốn xã hội của chúng ta, có hai vấn đề nổi bật cần lưu ý: Một là đánh giá đúng kết cấu nền tảng xã-hội-tâm-lý biểu hiện ở các đặc trưng tính cách, phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, lối sống của người Việt. Thứ hai là xem xét tình trạng phát triển của những tổ chức tự nguyện của người dân trong sinh hoạt của cộng đồng bên ngoài thị trường và Nhà nước.

Trí tưởng tượng "khiêm tốn"

Về vấn đề thứ nhất, đã có nhiều người bàn về những điểm mạnh, yếu, những cái hay, dở của người Việt. Ở đây tôi chỉ muốn nêu lên một số nhược điểm tính cách mà theo tôi có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn hóa, khoa học, giáo dục.

Cách đây hơn 10 năm, trong một hội thảo về đặc trưng văn hóa dân tộc ở TP. HCM tôi có nhấn mạnh yếu kém của người Việt về đầu óc tưởng tượng. Nói cho chính xác, trí tưởng tượng của người Việt không thuộc loại xuất sắc trên thế giới. Nhận xét đó có thể chạm tự ái dân tộc của nhiều người, nhưng tôi nghĩ đó là thực tế chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận.

Điều này thật ra cũng chẳng có gì lạ đối với một dân tộc bị đô hộ hàng nghìn năm, triền miên phải chống nhiều kẻ thù xâm lược lớn hơn, mạnh hơn gấp bội. Tất nhiên trí tưởng tượng của dân tộc chỉ có thể phát huy mạnh mẽ trong chiến tranh giữ nước. Nhưng cũng chính vì thế trí tưởng tượng của người Việt bị hạn chế trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống bình thường.

Chẳng hạn, trong kiến trúc truyền thống, ta không có công trình nào tầm cỡ như Angkor Wat của người Khmer. Trong kho tàng văn học, những tác phẩm hay nhất của ta cũng lấy cốt truyện dựa theo Tàu. Ta ít có những pho truyện lớn, với nhiều tình tiết phức tạp hay ý tưởng kỳ lạ độc đáo, lôi cuốn người đọc vào những thế giới tưởng tượng nửa thực nửa hư như ở nhiều nền văn học lớn khác trên thế giới.

Hoàn cảnh lịch sử cũng đã giam hãm ông bà ta quá lâu trong lối học từ chương khoa cử, nên tư duy bị gò bó. Chúng ta thiếu những nhà tư tưởng lớn, những triết gia tầm cỡ nhân loại. Tóm lại, gia tài để lại về trí tưởng tượng sáng tạo của chúng ta phải nói là khiêm tốn.

Trong thời đại kinh tế tri thức, đây là một nhược điểm mà nếu không cố gắng khắc phục nhanh, ta sẽ luôn ở thế yếu trong sự cạnh tranh với thế giới. Einstein từng nói một câu nổi tiếng: "Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức." Mới nghe tưởng như một nghịch lý nhưng thật ra là chân lý rất sâu sắc.

Ý nghĩa thời sự của chân lý đó là: Học để hiểu, để nhớ, để mở mang kiến thức là rất cần thiết, nhưng chỉ đủ để làm theo, đi theo, chứ hoàn toàn chưa đủ để khám phá, sáng tạo; mà người ta không thể khám phá, sáng tạo với một trí tưởng tượng nghèo nàn.

Coi pháp luật "có cũng như không"

Nhược điểm thứ hai cần nói đến ở người Việt là thiếu tinh thần kỷ luật và ý thức gắn kết cộng đồng. Trên thế giới người Đức nổi tiếng về hai đức tính đó, đặc biệt về tính kỷ luật chính xác. Người Trung Quốc, người Do Thái cũng nổi tiếng về tinh thần gắn kết cộng đồng. Còn người Việt chúng ta thì quá yếu về hai đức tính đó.

Nhiều chuyện tiếu lâm trong dân gian xung quanh việc này không phải không có cơ sở. Ngay những việc rất nhỏ trong giao thông đường phố cũng thấy rõ ứng xử khác nhau của người Việt và người Đức: Khi đèn đỏ, mặc dù nhìn quanh không thấy có xe cộ qua, người Đức vẫn kiên nhẫn đứng đợi, còn người Việt thì thường sẽ tranh thủ vượt.

Tính cách này ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển khoa học, công nghệ, và xây dựng công nghiệp. Nền văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, nề nếp đã được chuẩn hóa chính xác để bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng tối ưu của xã hội.

Thế mà đã có biết bao công trình xây dựng, nhà máy trên đất nước ta vừa mới khánh thành đã phải liên tục sửa chữa, thậm chí làm lại, chỉ vì sự cẩu thả trong việc tuân thủ các quy trình, các chuẩn mực từ thiết kế đến thi công. Đáng nói nhất là ý thức tôn trọng luật pháp chưa thành thói quen hằng ngày ngay từ các quan chức, khiến trong xã hội có nhiều tình huống tưởng như không có luật pháp, rất nguy hiểm.

Thói giả dối và thiếu cầu thị

Nhược điểm thứ ba là thiếu tinh thần học hỏi, thực sự cầu thị. Nhược điểm này của người Việt được thể hiện rõ nhất nếu chúng ta đối chiếu với người Nhật để thấy hết sự tương phản. Người Nhật có tinh thần khiêm tốn học tập cái hay của người khác và ít có thói chủ quan tự mãn, tự ru ngủ, tự cho mình là nhất thiên hạ.

Khác với nhiều người chúng ta, làm được chút gì thì ba hoa thiên địa, đến khi thất bại thì chậm rút kinh nghiệm, viện đủ mọi lý do để biện bạch ngoan cố. Đồng thời, cách học hỏi của người Nhật không mang tính nô lệ, không bị lệ thuộc. Tuy học người khác nhưng cũng biết đặt câu hỏi, lật tới lật lui, tìm cho ra đạo lý, căn nguyên, chứ không tiếp thu máy móc hời hợt.

Điều này thấy rõ ngay cả trong các hội thảo khoa học: Thường người Nhật rất chịu khó lắng nghe, đặt nhiều câu hỏi, biểu lộ sự quan tâm, khuyến khích diễn giả phát biểu hết ý kiến. Nhiều hội thảo khoa học ở Nhật không khí sôi nổi hơn cả ở một số nước phương Tây.

Có lẽ nhờ cái tinh thần đó mà từ rất sớm họ đã biết mở cửa, tiếp thu nền văn minh phương Tây, mau chóng trở thành cường quốc. Và khi thất bại họ cũng biết nhẫn nhục học hỏi, rút ra những bài học cần thiết để mau chóng vươn lên từ đống đổ nát. Thật khác với chúng ta, trong quá khứ và hiện nay đã bỏ lỡ biết bao cơ hội chỉ vì cái tính bảo thủ, không biết kịp thời học hỏi, rút kinh nghiệm nghiêm chỉnh từ thất bại.

Cuối cùng, ngoài những nhược điểm đề cập trên đây, có một đặc tính tiêu cực rất nghiêm trọng, đó là thói giả dối. Từ chỗ vốn không thuộc truyền thống của người Việt, trong mấy chục năm nay, cái thói xấu này đã dần dần trở thành phổ biến đến mức có thể nói đang trở thành một tính chất tiêu biểu.

Và nếu cứ để bệnh giả dối ngày càng xâm nhập sâu vào mọi ngóc ngách cuộc sống, kể cả các hoạt động khoa học và giáo dục, thì thật đáng lo cho tiền đồ đất nước. Trong giáo dục, căn bệnh này với các biến tướng của nó (tiêu cực trong thi cử, chạy theo thành tích, v.v.) sẽ ngày càng lấn át các xu hướng lành mạnh tích cực, làm hỏng cả thanh thiếu niên, đẩy họ vào lối sống sa đọa, không lý tưởng, không mục đích.

Trong khoa học, nếu không kịp thời chấn chỉnh thì nạn đạo văn và nạn gian dối trong các báo cáo nghiên cứu sẽ phát triển ngày càng tinh vi, trắng trợn, xóa nhòa ranh giới giữa thật và dỏm, đầu độc môi trường học thuật, làm nản lòng mọi người trung thực, đẩy khoa học vào thế bế tắc rất khó thoát.

Xem xét thực trạng vốn xã hội

Vấn đề thứ hai cần xem xét về thực trạng vốn xã hội ở Việt Nam là sự phát triển của xã hội dân sự. Ngày càng nhiều những người dân tập hợp trong những tổ chức tự nguyện hoạt động ngoài khuôn khổ chính quyền và không nhằm lợi nhuận, chỉ với những mục đích cao quý, như từ thiện, giúp đỡ, bênh vực người nghèo và những số phận không may mắn, cả về vật chất lẫn tinh thần. Hoặc đơn giản là hợp tác hỗ trợ nhau trong nghề nghiệp.

Qua những tổ chức đó, ý thức trách nhiệm công dân được nâng cao, sự gắn kết cộng đồng được tăng cường, có lợi cho cộng đồng, có lợi cho đất nước. Đồng thời, xã hội dân sự cũng là cầu nối giữa chính quyền và người dân, là "cái phanh" để ngăn chặn chính quyền lạm dụng quyền lực và nạn suy thoái đạo đức, giữ cho xã hội phát triển hài hòa, lành mạnh.

Nói tóm lại, để phát triển vốn xã hội và qua đó thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự phát triển của đất nước rất cần hai điều. Thứ nhất, cần nhận thức rõ những điểm yếu trong con người Việt Nam, tìm ra nguyên nhân để từ đó có cách hạn chế và loại trừ. Trong số các nguyên nhân, cần đặc biệt chú ý tới những vấn đề về thể chế Nhà nước và cơ chế thị trường.

Vì mặc dù vốn xã hội nằm ngoài phạm trù thể chế và cơ chế thị trường nhưng những cải cách về thể chế Nhà nước và cơ chế thị trường lại có tác dụng thúc đẩy phát triển vốn xã hội. Ví dụ đơn giản như nếu cơ chế thị trường không phát triển, thì người dân không có động cơ cạnh tranh, khiến cho trí tưởng tượng sáng tạo không được phát huy và ngày càng teo tóp.

Thứ hai, ngày càng thấy rõ vai trò không thể thiếu được của xã hội dân sự trong sự phát triển của đất nước. Một xã hội phát triển lành mạnh, có tiếng nói và vai trò độc lập với thể chế và thị trường, mới có thể góp phần nâng cao vốn xã hội và qua đó phục vụ lợi ích của cộng đồng ở những việc mà thị trường và nhà nước không hoặc khó làm được tốt.

Chúng ta luôn nói chiến lược phát triển đất nước là chiến lược con người nhưng nếu không chú ý tới hai điểm trên thì thật sự chỉ là lời nói suông, chẳng có mấy tác dụng.

Tuesday, February 19, 2013

"Chưa rõ Đâu là Điểm Sáng của nền Kinh Tế năm 2013"

[Tài chính marketing] “Theo hiểu biết của tôi, thực sự chưa rõ điểm sáng của năm 2013. Nếu có, đó là sự ổn định tạm thời của kinh tế vĩ mô”...

“Điểm sáng của nền kinh tế, nếu có đó là sự ổn định kinh tế vĩ mô - nhưng không thật vững chắc; nếu có, đó là sự khôi phục và hoạt động trở lại của nhiều doanh nghiệp, nhiều thị trường, nhiều lĩnh vực, nhưng khá chậm chạp và còn nhiều trở ngại”, ông Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội Kế toán và kiểm toán Việt Nam, nêu quan điểm khi nhận định về kinh tế Việt Nam năm nay. 

Dự cảm về nền kinh tế 2013, nhiều người trong giới chuyên gia tỏ ra không mấy lạc quan. Ý kiến của ông như thế nào?

Tôi cho rằng, dù trong hoàn cảnh nào, tất cả chúng ta cũng đều nên hy vọng vào sự chuyển động của nền kinh tế năm nay dù ít hay nhiều. Tất nhiên, để niềm hy vọng này có thể thành hiện thực thì Chính phủ cần khẳng định sự quyết tâm cao độ trong việc đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn.

Ông có nhấn mạnh về “quyết tâm cao độ”- có lẽ vì những khó khăn của năm 2013 đang là thách thức lớn không dễ vượt qua?

Đúng là như vậy. Năm 2012, chúng ta vẫn đạt được một số kết quả như kiềm chế lạm phát, tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) thấp hơn nhiều so với năm 2011, thấp hơn nhiều so với bình quân thời kỳ 2004 - 2011 và thấp hơn so với mục tiêu theo Nghị quyết của Quốc hội (dưới 10%); kim ngạch xuất khẩu đạt 114,6 tỷ USD tăng 18,3% so với năm 2011, vượt chỉ tiêu kế hoạch Quốc hội đề ra... nhưng nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong tình trạng rất khó khăn, còn nhiều hạn chế và yếu kém. 

Đó là kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ lạm phát quay trở lại, thậm chí có thể trở lại quyết liệt hơn; hàng tồn đọng và nợ xấu là hai trở ngại lớn cho kinh tế Việt Nam năm 2012 vẫn chưa nhìn thấy các giải pháp hiệu quả để giải quyết; khu vực doanh nghiệp đã và sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn cả về mô hình hoạt động, quản trị, cả về khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, cả về thị trường, về cơ cấu sản phẩm; thị trường bất động sản bị đình trệ, thị trường tài chính èo uột.
Và một thách thức nổi bật không thể không kể đến là những lúng túng trong điều hành, sự thiếu khẩn trương, kiên quyết trong tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu doanh nghiệp, thị trường vốn; sự chậm chạp và chưa thật sự hiệu quả trong xử lý nợ xấu, nợ tồn đọng...

Chính phủ cho rằng kết quả kiềm chế lạm phát của năm 2012 sẽ là điểm sáng hy vọng cho nền kinh tế năm 2013, ông có chung quan điểm này?

Lạm phát năm 2012 được kiềm chế do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân trực tiếp là chính sách tiền tệ, tài khóa được thắt chặt với lãi suất cho vay cao, kéo dài, tăng trưởng tín dụng thấp chưa bằng 1/2 năm trước; đầu tư, sản xuất, tiêu dùng đều giảm... Nhưng như tôi vừa nói, kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ lạm phát quay trở lại, thậm chí trở lại quyết liệt hơn.

Vậy theo ông, điểm sáng của nền kinh tế 2013 có thể nhìn thấy ở đâu?

Theo hiểu biết của tôi, thực sự chưa rõ điểm sáng của năm 2013. Nếu có, đó là sự ổn định tạm thời của kinh tế vĩ mô - nhưng tiếc là sự ổn định này lại không thật vững chắc. Hy vọng rằng sẽ xuất hiện điểm sáng của nền kinh tế, có thể là sự khôi phục và hoạt động trở lại của nhiều doanh nghiệp, nhiều thị trường, nhiều lĩnh vực. Nhưng cần có sự quyết liệt hơn cả về chính sách và điều hành để sớm khắc phục những trở ngại, những diễn biến còn khá chậm chạp như hiện nay...

Ngay từ đầu năm, Chính phủ đã đề ra một loạt giải pháp và thể hiện sự rất khẩn trương trong triển khai thực hiện. Ông có bình luận gì về tinh thần này của Chính phủ?

Tôi cho rằng Chính phủ cần vào cuộc mạnh mẽ và thiết thực hơn nữa để tháo gỡ những nút thắt về nợ xấu, về hàng tồn kho, về vốn, về năng lực quản lý, quản trị cũng như thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế, trước hết là tái cơ cấu đầu tư, tái cấu trúc doanh nghiệp và thị trường cho doanh nghiệp hoạt động. 

Trong khi triển khai quyết liệt các giải pháp đã đưa ra, Chính phủ cũng đồng thời phải yêu cầu trách nhiệm giải trình của các tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ trong từng lĩnh vực, từng khâu công viêc. Sự thực hiện thành hay bại của các giải pháp tháo gỡ những nút thắt này, sẽ quyết định hướng thoát ra hay không của nền kinh tế nước ta hiện nay.

Vì sự quá khó khăn của nền kinh tế mà quá trình tái cơ cấu nền kinh tế có thể tiếp tục bị chậm lại. Theo ông, điều đó có nên được thông cảm và chia sẻ?

Tôi không nghĩ như vậy. Bên cạnh việc tập trung các giải pháp hàng đầu cho khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh, tập trung các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phải thực hiện quyết liệt, bài bản và cần sự chỉ huy thống nhất trong việc tái cơ cấu nền kinh tế. 

Quá trình triển khai thực hiện các công việc này không thể thiếu sự chỉ huy thống nhất trên toàn quốc, vì lợi ích chung và với một kỷ cương, quy trình chặt chẽ. Tái cơ cấu nền kinh tế, là công việc không thể chần chừ thêm. 

Cần có một đầu mối chỉ đạo và xác định rõ trách nhiệm từng cá nhân tổ chức, có sự đánh giá và điều chỉnh kịp thời. Quan tâm nhiều hơn đến xử lý vốn cho doanh nghiệp và nâng cao chất lượng quản trị kinh doanh, trước hết là quản trị tài chính. Sử dụng hiệu quả công cụ kế toán, nâng cao hiệu quả và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ. Đề cao vai trò và xác định trách nhiệm, quyền của kế toán trưởng với vai trò kiểm soát viên tài chính của chủ sở hữu tại từng đơn vị.
Tác giả: Đoàn Trần
Nguồn: VnEconomy

Tin bài khác:

Con Người Tự Do vẫn là Ý Niệm Xa Lạ

[Học marketing] Quả thật là giới trẻ Việt Nam rất thiệt thòi khi ý niệm về con người tự do vẫn là một điều xa lạ, và xa xỉ, trong xã hội. Cái được nói đến thường xuyên hơn là trách nhiệm công dân.


Tự do là khởi nguồn của giải pháp


- Xã hội biến động mạnh đã tác động rất lớn đến hệ giá trị của người trẻ. Anh nhìn nhận thế nào về hệ giá trị hiện nay của giới trẻ, nó có bị cuốn theo những giá trị ảo, hời hợt bên ngoài? Giới trẻ có đang thờ ơ với những vấn đề lớn của đất nước, xã hội như nhiều "người lớn" vẫn nói?

TS Giáp Văn Dương: Đúng là đang có hiện tượng xã hội đang chạy theo các giá trị ảo, nặng về hình thức bên ngoài. Điều này đã được nhiều người lên tiếng và cảnh báo như một sự xuống cấp chung về đạo đức, lối sống, văn hóa...

Sự xuống cấp này không chỉ ở trong giới trẻ, mà ở mọi tầng lớp khác, kể cả lãnh đạo. Với những người có địa vị và quyền lực, điều này còn hiển hiện rõ ràng hơn, vì đơn giản là họ có phương tiện để thực hiện nó. Vì thế, nói giới trẻ đang chạy theo giá trị ảo, hời hợt bên ngoài, dù là một mô tả đúng thì cũng không đủ sâu, và có phần né tránh vì không xét đến bối cảnh chung.

Trước khi quy kết cho người trẻ chạy theo giá trị ảo, hời hợt bên ngoài thì thế nào là giá trị ảo, hời hợt cũng là điều cần bàn xét. Nói một giá trị là ảo chỉ khi có một giá trị thật bền vững làm đối chứng. Giá trị thật này phải được thử thách qua thời gian, không gian, tức có tính phổ quát.

Nhưng các giá trị phổ quát đó chưa chắc đã được chào đón, và được coi là giá trị thật ở Việt Nam. Cái truyền thống thì bị quy kết là phong kiến cổ hủ, cái đương đại thì ngăn chặn và gắn mác ngoại lai thù địch. Người trẻ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan nên chán nản, mất định hướng.

Nhiều lúc tôi thấy người trẻ như con cá trong giỏ cua, quay bên nào cũng bị cặp, nên chỉ biết giãy giụa.

Đây không hẳn chỉ là một quán tính văn hóa, mà dường như còn là cả một kế hoạch.


Trong hoàn cảnh đó, giới trẻ sẽ làm gì?


Họ sẽ chạy theo bất cứ thứ gì mới lạ mà họ tiếp xúc, như thần tượng các cầu thủ bóng đá, các ca sĩ nước ngoài. Vậy nói rằng người trẻ đang chạy theo những giá trị ảo, hời hợt bên ngoài là không công bằng. Họ làm vậy vì trong sâu thẳm, họ không có lựa chọn nào khác. Họ cũng chưa đủ trưởng thành để tạo ra các lựa chọn cho mình và người xung quanh.

Không thể bắt một dòng sông chảy ngược. Cho nên cũng không thể bắt người trẻ trẻ lại những giá trị cũ, dù là đúng với các thế hệ trước, nhưng lại trở nên lạc hậu trong đời sống đương thời. Nếu thực sự vì người trẻ và vì đất nước, cái duy nhất mà "người lớn" nên làm là hãy để cho người trẻ được tự do lựa chọn, tự do định đoạt số phận mình.

Có thể bạn sẽ lấy ví dụ người trẻ chỉ biết chạy theo tiền để minh chứng cho việc giới trẻ chạy theo các giá trị ảo bên ngoài. Điều này cũng lại không công bằng nữa. Khi không có một thang giá trị tinh thần đủ mạnh làm định hướng, hoặc không có các giá trị tâm linh có tính cách thiêng liêng để tôn thờ, thì họ sẽ chọn thứ gì dễ nhìn thấy nhất, dễ đo đạc nhất, có quyền năng tức thời nhất để làm chuẩn. Đó là tiền. Vì vậy, nên hiểu việc chạy theo tiền như một chỉ dấu về tình trạng khô hạn trong đời sống tinh thần của toàn xã hội, chứ không phải là chạy theo một giá trị ảo, hời hợt bên ngoài của giới trẻ.

Làm giàu không phải là xấu, càng không phải là ảo. Làm giàu là xu hướng tất yếu nếu đất nước muốn giàu mạnh lên. Làm sao một đất nước có thể giàu mạnh nếu những công dân của nó không muốn làm giàu, không khát khao một sự trỗi dậy??

Do đó, nếu phải nói gì về hệ giá trị hiện nay của người trẻ, thì đó là không có hệ giá trị nào cả. Không có hệ giá trị chủ đạo. Những câu chuyện lớn, lý tưởng lớn đã không còn sức thuyết phục. Cái mường tượng, cái được rao giảng quá khác với thực tế. Những mệnh đề chắc nịch như chân lý bỗng chỗng trở thành vô nghĩa trong hoàn cảnh mới. Tất cả đều nhảm nhí hết rồi!

Điều đáng quan tâm hiện giờ chỉ là những mảnh vụn cuộc đời. Kiếm tiền, ăn, chơi, lên Facebook tán gẫu chuyện đời, than thở, khoe con, khoe quần áo, khoe người yêu... tích cực lắm thì cũng lang thang đây đó như trào lưu "phượt" cho đỡ tù túng. Tức là những câu chuyện nhỏ, những chia sẻ nhỏ, những mảnh vụn cuộc đời mới là cái đáng quan tâm và khả tín. Bạn có thể gọi nó bằng một tên gọi đầy tính thời thượng, như "hậu hiện đại" chẳng hạn, hay bất kể một cái tên nào khác mà bạn muốn.

Điều này không xấu. Điều này cũng không đáng trách. Nếu so với điều vô nghĩa vĩ mô thì đây lại là cứu rỗi. Trong những mảnh vụn nhỏ, ý nghĩa sẽ trỗi dậy để thay cho điều vô nghĩa vĩ đại sáo mòn. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh Việt Nam đang đòi hỏi một sự vượt lên, một sự quy tụ nguồn lực để phát triển, thì đây là một trở ngại lớn.

Còn người trẻ có thờ ơ với những vấn đề lớn của đất nước không ư? Nhiều người cho rằng có, và buộc tội người trẻ như vậy. Nhưng họ đã không xét đến một thực tế: bằng cách này hay cách khác, người trẻ đang bị tước đoạt quyền tham gia định đoạt những vấn đề lớn của đất nước.

Trật tự hiện tại đang muốn người trẻ tuân thủ, chứ không phải là định đoạt.

TS.Giáp Văn Dương - Chân dung minh hoạ: Hoàng Tường/SGTT



- Anh thường nhấn mạnh đến vai trò của của tự do nội tại. Với giới trẻ, tự do quan trọng đến mức nào trong việc định vị bản thân? Và nó giúp gì cho họ khi đối mặt với khó khăn, khủng hoảng?


Với riêng tôi, việc khám phá ra tự do nội tại là một bước tiến đáng kể trong đời sống cá nhân, đặc biệt trong việc nhận thức bản thân mình. Thường thì tự do nội tại bị các tầng nấc luật lệ, văn hóa, thói quen, quán tính... che khuất; hoặc bị quên lãng bởi sự bận rộn của đời sống thường ngày. Nhưng khi được khám phá ra, tự do nội tại sẽ là khởi nguồn cho một đời sống tươi mới đầy tỉnh thức.

Có thể ví tự do nội tại, tuy vô hình nhưng lại như cánh đồng mênh mông cho mỗi người tự do khai phá gieo trồng. Thành quả của sự gieo trồng này chính là sự trù phú trong đời sống tinh thần của ai tìm ra nó. Nếu đời sống tinh thần nghèo nàn hay đang bị sa mạc hóa, thì nguyên nhân có một phần đến từ sự bỏ quên và bỏ hoang cánh đồng này.

Vì là tự do nội tại, nên nó là thứ tự do bất khả tước đoạt. Chính vì thế, đây là pháo đài cuối cùng mỗi người dùng để bảo vệ phẩm giá và các giá trị cá nhân của mình. Nói cách khác, đó chính là nơi để mình phát triển một cách trọn vẹn nhân cách của mình.

Với người duy lý, tự do nội tại tạo ra một điểm tựa lý thuyết cho người ta tự tin, vượt qua các rào cản tâm lý và cả sự sợ hãi, để định đoạt cuộc đời mình, và sống cuộc đời mình mong muốn.

Thật may mắn, tự do nội tại là thứ tự do bất khả tước đoạt, tồn tại trên cơ sở lý tính của con người, nên về mặt lý thuyết, trong mọi hoàn cảnh con người ta đều có thể lựa chọn để sống như mình muốn. Đây chính là cơ sở để con người tự giải phóng mình và chủ động định đoạt cuộc đời mình theo chiều hướng mà mình cho là tốt nhất.

Với người trẻ, khi nhân cách còn đang trong quá trình định hình, gương mặt và thân phận mình còn đang được tạc vẽ, thì tự do nội tại, và sau đó là tự do của môi trường bên ngoài, đóng vai trò quyết định trong việc định hình và định vị bản thân mình. Tự do cho phép họ thực hiện những việc mà họ cho là phù hợp nhất với cá nhân họ. Nói cách khác, tự do cho phép mỗi người tự đúc tạc cuộc đời mình.

Vì sao ư? Vì tự do bao giờ cũng gắn liền với lựa chọn, nên khi có tự do, người ta sẽ có lựa chọn. Và khi lựa chọn, người ta đã thực hiện hành động đầu tiên và cơ bản nhất trong đời sống của mình với tư cách một con người.

Nếu phân tích sâu hơn sẽ thấy, lựa chọn chính là hành động ở cấp độ cơ bản nhất. Lựa chọn chính là bản lề giữa cái bên trong và bên ngoài, giữa cá nhân và xã hội. Vì thế, về mặt logic, mọi hoạt động của con người đều có thể phân tích thành một chuỗi các lựa chọn liên tiếp.

Tự do cho phép con người ta được lựa chọn, vì thế giúp con người được thực hiện những hành động có lý trí, có ý nghĩa, có nhân tính một cách chủ động. Nói cách khác, tự do giúp cho con người ta được tự định đoạt số phận mình để sống một cuộc sống chủ động và có ý nghĩa.

Còn tự do có giúp gì trong khó khăn khủng khoảng hay không ư? Khi gặp khó khăn, chính tự do sẽ là khởi nguồn của giải pháp. Vì tự do cho phép lựa chọn, mà giải pháp suy cho cùng chỉ là một chuỗi các lựa chọn tối ưu.

Vì thế có thể nói, tự do chính là nguyên ủy sâu xa của mọi sáng tạo, mọi giải pháp trong lúc khó khăn, khủng hoảng.


Khởi đầu bằng biết đặt câu hỏi


- Anh đã học tập và tham gia giảng dạy tại một số nước trên thế giới. Theo quan sát của anh, nền giáo dục tại các quốc gia này đã trang bị cho tự do của người trẻ cũng như khả năng, kỹ năng vượt qua khủng hoảng ra sao?

Trong những nơi tôi đi qua, không hẳn nơi nào cũng chủ động trang bị cho sinh viên một hành trang về tự do. Nhưng ở các nền giáo dục tiên tiến, tinh thần tự do đã thấm vào máu mỗi người. Nhà trường chỉ tạo điều kiện cho tinh thần đó được sinh sôi, luân chuyển trơn tru và rèn luyện cho thêm vững chắc.

Họ có các chương trình và phương pháp thích hợp để giúp người trẻ tự do thể hiện mình, tự do chủ động định hình tính cách và cuộc đời mình. Từ đó người trẻ hiểu được vai trò và giá trị của tự do. Đó là lý do vì sao khi tự do bị đe dọa họ, dù là tự do cá nhân hay tự do chung của cộng đồng, họ lại thường có những phản ứng không nhân nhượng.

Song song với việc làm cho người trẻ thấm nhuần tinh thần tự do, các nền giáo dục đó cũng giáo dục cho người trẻ của mình về trách nhiệm công dân. Con người tự do và trách nhiệm công dân là hai đặc trưng không thể tách rời của một người trưởng thành. Nếu con người tự do giúp mỗi người hoàn thiện bản thân mình với tư cách một cá nhân, thì trách nhiệm công dân giúp cho xã hội mà cá nhân đó là một thành viên thêm bền vững.

Đã là con người thì bao giờ cũng có hai thuộc tính cá nhân và xã hội, do đó, con người tự do và trách nhiệm công dân luôn gắn chặt với nhau, như hình với bóng. Vì thế có thể nói ngắn gọn, với các nền giáo dục tiên tiến, con người tự do và trách nhiệm công dân là đích đến của giáo dục.

Khi có con người tự do và trách nhiệm công dân, người trẻ sẽ tự động tìm ra giải pháp để vượt qua khó khăn, khủng hoảng. Còn vượt qua như thế nào thì chỉ là những vấn đề mang tính kỹ thuật.

- Xét về khía cạnh trên, giới trẻ Việt Nam có quá thiệt thòi?

Quả thật là giới trẻ Việt Nam rất thiệt thòi khi ý niệm về con người tự do vẫn là một điều xa lạ, và xa xỉ, trong xã hội. Trong suốt thời phổ thông và đại học, tôi chưa từng một lần nghe các thày cô của mình nói đến con người tự do, vì bản thân họ cũng không có ý niệm này.

Cái được nói đến thường xuyên hơn là trách nhiệm công dân. Vì thế, cân bằng giữa con người tự do và trách nhiệm công dân bị phá vỡ. Con người tự do bị bóp nghẹt, chỉ còn trách nhiệm công dân.

Điều này đã thể hiện ra dưới rất nhiều dạng thức khác nhau, như sự triệt tiêu của sáng tạo cá nhân, coi thường cá nhân mà chỉ đề cao tập thể. Mô hình kinh tế tập trung bao cấp, mô hình hợp tác xã nông nghiệp, cách tổ chức nghiên cứu khoa học, giáo dục theo kiểu "hợp tác xã khoa học" v.v. cũng là những dạng tồn tại cụ thể của sự mất cân bằng này.

Vì thế, với những giá trị là hiển nhiên của thế giới, thì người trẻ Việt Nam vẫn còn phải làm quen và chật vật tiếp thu, nhiều khi trong cấm cản vì động chạm đến những trật tự cũ. Đó thực sự là một điều rất thiệt thòi.

- Giới trẻ phải tự giáo dục và đào tạo cho mình những gì để vượt qua được khủng hoảng? Anh có kinh nghiệm nào có thể chia sẻ từ những gì bản thân anh đã trải qua?

Giới trẻ phải tự đào tạo những gì ư? Mỗi người sẽ có câu trả lời riêng. Không có giải pháp vạn năng cho các vấn đề của tất cả mọi người. Nhưng giải pháp cho mỗi người sẽ đến từ việc biết đặt câu hỏi và biết hoài nghi lành mạnh. Vì biết đặt câu hỏi và biết hoài nghi lành mạnh là đã khởi đầu cho việc tự giáo dục và đào tạo mình rồi.

Từ việc đặt câu hỏi sẽ dẫn đến các câu trả lời, hoặc ít nhất cũng là hành trình đi tìm câu trả lời. Mọi việc sẽ sáng dần ra. Đến một lúc nào đó, mọi cái u mê bùng nhùng sẽ tan biến. Mọi việc sẽ trở nên rõ ràng. Bạn sẽ biết mình là ai, mình cần phải làm gì, và vì sao mình lại làm như vậy. Tức là bạn đã được khai minh và trưởng thành.

Kinh nghiệm của tôi là đừng tin bất cứ thứ gì mà mình chưa trực tiếp kiểm chứng hoặc trải nghiệm. Nếu bạn nói về vấn đề nào đó mà chưa từng đặt câu hỏi đó là gì và tìm cách trả lời nó, thì mọi điều bạn nói đều không khả tín. Vì đơn giản đó không phải là tri thức của bạn, đó chỉ là thông tin bạn nhặt nhạnh đâu đó, hoặc thông tin dội vào đầu bạn trong vô thức. Mà thông tin thì không phải lúc nào cũng khả tín và có ý nghĩa.

Vậy nên, giữa một rừng thông tin, một rừng sự kiện, một rừng giá trị tốt xấu đúng sai cùng pha trộn, thì cách hữu hiệu nhất để minh định chúng là tự đặt câu hỏi và tự dùng lý trí của mình để trả lời chúng. Mỗi câu hỏi và mỗi câu trả lời sẽ là một ngọn đuốc nhỏ để mỗi người tự thắp sáng đường đi của mình.

Đến đây ta lại thấy hé lộ vai trò của tự do báo chí, tự do tư tưởng và tự do học thuật, mà nếu nói thêm thì e là quá dài. Vậy xin hẹn vào một dịp khác.

Tác giả: Hải Tâm
Nguồn: Tuanvietnam

Tin bài khác:

Phá Sản, trong Họa có Phúc

[Tài chính marketing] Năm Rồng đến rồi đi thật nhanh, cuồn cuộn như thác trời, chỉ thích hợp với những ai kịp nhanh để nắm bắt các thời cơ đến rồi đi nhanh.

Năm qua có thể là năm của mất mát đối với rất nhiều doanh nghiệp (DN), đặc biệt là với thông tin rất nhiều doanh nghiệp đã phá sản, giải thể hoặc lâm vào cảnh khó khăn, nợ đọng, phải sa thải bớt nhân viên, thu hẹp qui mô sản xuất kinh doanh, chuyển hướng sản phẩm dịch vụ sang lĩnh vực khác.

Năm Rồng đến rồi đi thật nhanh, cuồn cuộn như thác trời, chỉ thích hợp với những ai kịp nhanh để nắm bắt các thời cơ đến rồi đi nhanh. Hoặc kịp thời thoái lui trước các diễn biến xấu của tình hình thị trường tài chính hàng hóa luôn biến động với rất nhiều các chính sách kinh tế vĩ mô thay đổi quá nhanh.

Một chuyên gia sống lâu năm ở Đức cho biết, các học sinh tại Đức luôn được khuyến khích để lập kế hoạch học tập và làm việc trong dài hạn, suy nghĩ và hành động với tư duy dài hạn, tầm nhìn 10 năm trở lên. Các nhà làm chính sách ở ta tuy cũng khuyến khích người dân và doanh nghiệp đầu tư làm ăn lâu dài, tránh tình trạng "ăn xổi ở thì", nhưng vẫn có một số chính sách khiến người dân và doanh nghiệp buộc phải chạy theo và đối phó rất vất vả...

Một giám đốc doanh nghiệp chuyên làm bất động sản nói vừa pha chút cay đắng và tự hào: "Chúng tôi đã đào thoát được qua khe cửa hẹp". Anh cho rằng đã và sẽ có rất nhiều DN bất động sản "chết" với tình hình như hiện nay.

Còn các chính sách giải cứu doanh nghiệp thì không kiểm soát tốt có thể sẽ lặp lại bài học "hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong năm 2008" hay như "cá tra vay 38 ngàn tỉ đồng" nhưng rốt cuộc các DN nuôi cá tra thực sự nghi ngờ về số tiền này đã được chảy vào đâu...

Cái chết của các DN thuộc nhóm tài chính, ngân hàng, chứng khoán còn được phản ánh qua một thông tin tưởng chừng như không có liên quan, đó là, chủ trương mới của Bộ Giáo dục - Đào tạo không khuyến khích mở mới, cấp phép mới cho các trường mở các ngành đào tạo này!

Đọc qua một số tờ báo có mục tuyển dụng, tìm việc, chúng ta có thể thấy các cử nhân kế toán, tài chính tìm việc gia tăng! Phải chăng điều này có liên quan đến tình trạng hàng chục - trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, đã dẫn tới tình trạng dôi dư rất nhiều nhân sự thuộc lĩnh vực này?

Đây cũng là dịp các DN nhìn lại mình, trong "Họa" có "Phúc" và trong "Phúc" luôn có "Họa". Doanh nghiệp cần kiên trì tái cấu trúc, xây dựng lại tư duy kinh doanh trong môi trường đặc thù Việt Nam.

Bài toán hàn gắn lại các mảnh vỡ cũ hay làm lại từ đầu, xây dựng mới các sản phẩm, dịch vụ luôn là bài toán nan giải của người làm doanh nghiệp...

Kiến thức mà nhân loại cần phấn đấu, học hỏi là vô tận và cũng luôn là sự cổ vũ cho chúng ta vươn lên tầm cao mới. Do vậy, các DN và cả nhà quản lý cần có dịp nhìn lại chính bản thân mình. Nhận ra các vòng tròn hạn chế tri thức trong vòng tròn nhận thức của chính mình để từ đó cơ hội vươn tới tầm cao mới, và may ra mới có cơ hội với tới các đỉnh cao rộng mở hơn.


Tư tưởng của các nhà tư tưởng lớn, các nhà triết học vĩ đại của các thời đại liệu có gặp nhau? Các kinh tế gia giỏi nhất vẫn có thể mang lại những suy nghĩ và kết luận sai lầm ... Tại sao chúng ta cứ luôn khăng khăng những điều mình nghĩ và xác quyết là luôn đúng?

Vấn đề là ta có thể chấp nhận các sai lầm đến đâu và phải trả giá như thế nào? Có thể hạnh phúc và thành công đến đâu? Vì có những vòng tròn còn lớn hơn nữa ... các vòng tròn của tư tưởng, tư duy, ước vọng và hành động.

Điều này đơn giản nhưng thật không dễ dàng, vì chiến thắng chính bản thân mình luôn là bài toán khó, vượt qua bản thân mình luôn đòi hỏi sự can đảm phi thường.

Và các vòng tròn lớn hơn luôn chờ chúng ta ở phía trước... nơi chân trời mới!

Tuyệt vọng... và hy vọng... Biến hóa vô cùng!

Tác giả: Cảnh Thái
Nguồn: Vef.vn

Tin bài khác:

Friday, February 15, 2013

Cuộc chiến Trung Nguyên - Starbucks và chuyện thương hiệu Việt Nam

[Thương Hiệu] Starbucks vào Việt Nam. Sẽ có nhiều bạn trẻ sẵn sàng trả gấp nhiều lần số tiền 20.000 đồng (giá một ly cà phê Trung Nguyên) cho một cốc Starbucks Espresso kiểu Ý...

Ở góc nhìn quản trị thương hiệu, tên thương hiệu đã trở thành yếu tố quyết định hành vi khách hàng thay vì chất lượng sản phẩm

Vào một sáng mùa đông lạnh lẽo tại một nhà ga tàu điện ngầm ở thủ đô Washington DC, một nghệ sỹ vỹ cầm nhẫn nại kéo đàn với một chiếc mũ để trước mặt. Người qua lại rất đông. Sau 45 phút, chỉ có vài người dừng lại chốc lát xem vì tò mò, rồi đi ngay. Tổng cộng ông nhận được 32 uSD. Rồi nghệ sỹ lặng lẽ thu xếp đồ đạc, rảo bước vào cổng nhà hát Boston cách đó không xa. Tại đây, mỗi khán giả phải trả 100 uSD để được xem ông biểu diễn. Ông chính là nghệ sỹ violin danh tiếng thế giới Joshua Bell. Với một buổi biểu diễn như vậy, ông được trả hàng chục ngàn đôla.

Thực ra đây là một cuộc thử nghiệm do tờ Washington Post thực hiện để đánh giá cảm nhận của con người về thế giới quanh họ. Kết quả nói lên rằng: giá trị nhiều khi được quyết định không phải bởi giá trị sử dụng. Rất có thể trong số những người đã rảo bước qua “nghệ sỹ hát rong” Joshua Bell tại ga tàu điện ngầm, sau đó lại mua vé rất đắt để xem buổi biểu diễn của “nghệ sỹ danh tiếng” Joshua Bell tại nhà hát Boston. Sự khác nhau ở đây không còn ở chất lượng âm nhạc mà là tên tuổi của người biễu diễn. Ở góc nhìn quản trị thương hiệu, tên thương hiệu đã trở thành yếu tố quyết định đến hành vi khách hàng thay vì chất lượng sản phẩm.

Mua sản phẩm hay thương hiệu?

Starbucks vào Việt Nam. Sẽ có nhiều bạn trẻ sẵn sàng trả gấp nhiều lần số tiền 20.000 đồng (giá một ly cà phê Trung Nguyên) cho một cốc Starbucks Espresso kiểu Ý. Chẳng phải do chất lượng cà phê đặc biệt hơn. Cái khác là thương hiệu Starbucks.

Tương tự, giá một chai bia Heineken 250ml là 15.000 đồng. Cao gấp đôi so với một chai bia Hà Nội cùng dung tích. Khi đi tiếp khách hay đi cùng bạn bè, nhiều người chúng ta sẽ chọn thứ đắt hơn. Không hẳn do loại bia này ngon hơn. Khác biệt là thương hiệu Heineken! Và như thế, người tiêu dùng không hẳn là mua sản phẩm nữa rồi. Họ mua thương hiệu. Các bạn trẻ không mua cà phê. Họ mua sự sành điệu mang tên Starbucks. Người uống bia không mua bia. Họ mua sự tự tin mang tên Heineken!

Những ngày cuối năm 2012, thị trường chuỗi bán lẻ Việt Nam chứng kiến sự có mặt rầm rộ của 3 trong số 4 tên tuổi lớn nhất thế giới: KFC; Burger King và Starbucks. Ở chiều ngược lại, một số thương hiệu Việt có tên tuổi lặng lẽ “bán mình” cho đối tác nước ngoài: Phở 24, bia Huế, Diana hay thương hiệu vật liệu nội thất Prime. Vậy đối với thương hiệu Việt, liệu có bao nhiêu cơ hội để chúng ta từ bỏ thân phận của kẻ “hát rong đường phố” để bước lên sân khấu dành cho “nghệ sỹ nhà hát”?

Đừng quên marketing

Marketing là tiền bạc. Điều này đã chứng minh qua thực tế khá thuyết phục: các thương hiệu thành công đều chi bộn cho hoạt động marketing. Theo Kantar Media, Top 5 thương hiệu chi nhiều tiền nhất cho quảng cáo năm 2011 lần lượt là unilever, P&G, Tân Hiệp Phát, Masan và Vinamilk. Tại sao nhãn hiệu đình đám 2012 mì Gấu Đỏ thành công? Một trong những lý do quan trọng là Asia Food đã ưu ái dành cho chiến dịch marketing của nhãn hiệu này tới gần 150 tỉ đồng.

Nhưng nếu lý luận một cách giản đơn kiểu “có nhiều tiền là xây dựng thương hiệu thành công” thì rõ là oan ức cho những Tân Hiệp Phát, Vinamilk, Masan hay Gấu đỏ. Ngoài sự hậu thuẫn về ngân sách, thành công của các thương hiệu nội địa này còn là nhờ vận dụng đúng đắn các kiến thức và quy luật marketing.

Các sản phẩm của Masan (nước tương Tam Thái Tử, nước mắm Nam Ngư, mì gói Omachi hay Tiến Vua) đều thành công nhờ một vũ khí duy nhất mà các thương hiệu nước ngoài thường áp dụng: đánh vào nỗi sợ hãi của người tiêu dùng. Con đường đi của Tân Hiệp Phát (Trà Dr. Thanh, Trà xanh không độ hay nước uống tăng lực Number 1) là bản sao của những gì mà các đại gia như CocaCola hay Pepsi đã làm: đổ tiền cho quảng cáo “dội bom” và xây dựng hệ thống phân phối rộng khắp. Trên thị trường Việt Nam, cả Tân Hiệp Phát và Masan hiện đã trở thành đối thủ

Marketing còn là sự sáng tạo

Nhà phân tích chiến lược danh tiếng Peter Drucker cho rằng, “doanh nghiệp có hai chức năng và chỉ có hai mà thôi: marketing và sáng tạo. Marketing và sáng tạo - tạo ra kết quả. Những thứ khác còn lại chỉ là chi phí”.

Đối với các thương hiệu Việt, sẽ rất dễ thành công nếu biết khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong các thông điệp truyền thông. Một trong những ví dụ điển hình về sự sáng tạo trong khơi gợi truyền thống hào hùng của dân tộc Việt là thương hiệu Bitis với slogan “Nâng niu bàn chân Việt”. Quảng cáo này đã có từ rất lâu. Cho đến nay nhiều người vẫn rất nhớ và thích thú với từng chi tiết của quảng cáo này, từ bàn chân của Lạc Long Quân xuống biển; bàn chân của các nghĩa sỹ Quang Trung; bàn chân của các chiến sĩ bộ đội cụ Hồ và bàn chân của những đứa trẻ ngày nay đang đi dép Bitis.

Cho đến nay, có thể coi đây là chiến dịch marketing hiếm hoi của một thương hiệu Việt có thể sánh ngang với các thương hiệu ngoại “đỉnh” nhất. Và điều đáng lưu ý là Bitis đã không phải chi tiền khủng cho chiến dịch này. Sự sáng tạo là vô giá vậy đấy. Giá trị mà nó mang lại là kết nối bền vững về mặt cảm xúc và rất khó phai nhạt. Tiếc rằng, có quá ít thương hiệu Việt làm được điều này. Cà phê Trung Nguyên với ông chủ Đặng Lê Nguyên Vũ cũng rất hăng hái cổ xúy cho tinh thần dân tộc “người Việt yêu hàng Việt”. Tôi đồng tình khi ông Đặng Lê Nguyên Vũ cho rằng, nếu muốn thắng Starbucks, Trung Nguyên phải tạo ra được triết lý và câu chuyện thương hiệu hay hơn. Thậm chí ông đã nói rất đúng và trúng về cách tiếp cận thị trường Mỹ: người Mỹ không cần một sản phẩm khác, họ cần một câu chuyện khác.

Tuy nhiên, “câu chuyện khác” của Trung Nguyên có vẻ vẫn còn mờ nhạt. Tình yêu là cái gì đó đến rất tự nhiên. Trung Nguyên hãy kể câu chuyện của họ thật hay, thật cảm xúc.

Không cần tìm kiếm đâu xa: Starbucks đã làm rất tốt việc này (những ai không tin, hãy đọc cuốn “Dốc hết trái tim” của người sáng lập Howard Schultz) và Bitis cũng làm rất tuyệt.

Có như vậy, mới chiếm được lòng tin và tình yêu từ khách hàng. Có như vậy, những thương hiệu Việt mới vừa có “danh” vừa có “giá”!
Theo Doanh Nhân

Tin liên quan: