Wednesday, May 8, 2013

Bẫy thu nhập trung bình – làm sao thoát?

[Thư viện marketing] IMF vừa công bố tăng trưởng năm nay của châu Á – Thái Bình Dương có thể đạt 5,75%. Nhưng IMF cũng cảnh báo các nước thận trọng để khỏi rơi vào bẫy thu nhập trung bình (Middle-Income Trap/MIT).

Tuần trước, quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán là các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ dẫn đầu sự phục hồi kinh tế toàn cầu với đà tăng trưởng khá cao. Cơ sở của dự báo lạc quan này là bối cảnh của khối kinh tế công nghiệp hoá Âu – Mỹ, chính sách kích thích kinh tế của Nhật, và nhất là những đặc điểm mới của các nước trong khu vực.

Báo cáo dành cả chương 3 để bàn về nan đề của nhiều nước là làm sao tránh được MIT. Nếu thu nhập bình quân của dân Mỹ hiện đạt gần 50.000 USD/năm, của châu Âu hơn 30.000 USD/năm, thì Hàn Quốc hay Đài Loan cũng đã vượt qua mức 20.000 USD/năm, trong khi Trung Quốc vẫn ở mức 6.000 USD/năm. Việt Nam đạt khoảng 1.200 USD/năm, nhiều nước khác chưa vượt khỏi giới hạn 1.000 USD/năm.

Mặc dù tăng trưởng kinh tế không phải là ưu tiên số một trong mục tiêu phát triển của Việt Nam năm 2012, nhưng mức tăng trưởng 5,03% là mức thấp so với mục tiêu đề ra 6% và so với mục tiêu trung hạn (6 – 6,5% trong kế hoạch năm năm 2011 – 2015); thấp so với mức tăng GDP trung bình của các nước điển hình trên thế giới thành công trong việc thoát khỏi “bẫy” MIT.

Theo thống kê của ngân hàng Thế giới (WB), trong giai đoạn 1977 – 1987 kinh tế thế giới có mức tăng ngoạn mục 8%, đưa thu nhập bình quân đầu người từ 1.042 USD lên 3.368 USD. Singapore cũng duy trì tốc độ 8% trong vòng bảy năm từ 1971 – 1978, riêng Hong Kong mức tăng trưởng là 10% và đây là con số đáng nể để thoát khỏi MIT.

Nhắc đến khung cảnh rộng lớn để thấy một thực tế khách quan. Các nước có thể học hỏi lẫn nhau để xây dựng những động lực đem lại sự thịnh vượng. Ngoài yếu tố tri thức hay công nghệ, một trong các động lực ấy là giá trị của niềm tin và quyền tự do trong kinh tế. Các nước đã có thể bật lên là nhờ buôn bán với nhau chứ không phải do xứ này bóc lột xứ khác.

Lý thuyết tranh đoạt quyền lợi kinh tế theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” là những sai lầm đã gây ra chiến tranh và tàn phá. Trong khi ấy, sự thể khách quan mà ta cần thấy ra ngày nay là sự thịnh suy của các nước tuỳ thuộc chủ yếu vào chính sách bên trong từng nước, chứ không thể đổ lỗi cho thiên hạ là xong. Ngược lại, các nước có thể tự rơi vào “bẫy”!

Bài học nào cho Việt Nam?

Trong khi Thái Lan đã phục hồi tăng trưởng “đáng nể”, ở mức 5,7%, sau khi suy giảm thì Việt Nam có mức tăng trưởng giảm sâu nhất và là nước duy nhất trong nhóm suy giảm tốc độ tăng trưởng trong ba năm liên tiếp kể từ năm 2010 đến nay. Mặc dầu tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới suy giảm, Lào vẫn tiếp tục duy trì phát triển cao ở mức 8,3% và trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á.

Thứ trưởng bộ Kế hoạch và đầu tư Đặng Huy Đông đánh giá, việc suy giảm tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là theo xu hướng chung của tăng trưởng thế giới, nhưng ngược với xu hướng tăng trưởng của các nước xung quanh. So với tình hình các nền kinh tế trong khu vực, thì dấu hiệu giảm sút tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2012 khá khác biệt.

Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư phát triển năm 2013 tuỳ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế thế giới và phản ứng chính sách của chính phủ nhằm đón dòng vốn đầu tư FDI/ODA đang được dịch chuyển từ Trung Quốc, Ấn Độ vào các nước ASEAN. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI được cải thiện sẽ dẫn đến cán cân vốn tiếp tục tăng. Dự báo năm 2013 cán cân vốn Việt Nam đạt 5,956 tỉ USD, tăng so với năm 2012 (con số này là 5,700 tỉ USD).

Tuy nhiên, chính sách vừa qua của Việt Nam mới chỉ quan tâm thu hút đầu tư, mà chưa chú ý tới việc hỗ trợ doanh nghiệp sau khi cấp phép, giữ chân doanh nghiệp ở lại Việt Nam trước những sức hút mới nổi từ các nước trong khu vực. Việt Nam cần định hướng dòng vốn này vào những lĩnh vực ưu tiên, loại bỏ những dự án đầu tư với công nghệ cũ, lạc hậu, cũng như giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI lên các doanh nghiệp trong nước.

Chính phủ vẫn cần duy trì ưu tiên ổn định vĩ mô, giữ lạm phát ở mức tương tự như năm 2012, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, linh hoạt. Chú trọng triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế nhà nước. Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó đặc biệt là tái cơ cấu đầu tư công.

Đồng thời, từng bước thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước nhằm giảm sự thất thoát lãng phí trong sử dụng vốn, tạo môi trường lành mạnh và bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Thực hiện các chính sách thu hút các nguồn vốn trong nước đưa vào sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng.

Đặc biệt, cần có giải pháp phá băng thị trường bất động sản nhằm giải quyết vấn đề nợ xấu, nhất là nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Việc tái cơ cấu ngân hàng cần được thực hiện triệt để, không chỉ nhằm giải quyết một phần nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, quan trọng hơn là lành mạnh hoá thị trường tín dụng, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp.

Theo Nguyễn Xuân - Quảng Trí- nguồn: SGTT
Tin bài khác:

'Lãi suất 0% doanh nghiệp cũng không vay được’

[Thư viện marketing] "Với doanh nghiệp làm ăn âm cả vào vốn thì lãi suất có 0% họ cũng chẳng trả nổi và vay thì càng chết thêm", Phó chủ tịch Ngân hàng Liên Việt Nguyễn Đức Hưởng dẫn chứng cho việc hạ lãi suất không có nhiều ý nghĩa.

Việc hạ lãi suất cho doanh nghiệp thế nào cho phù hợp được không ít chuyên gia kinh tế, lãnh đạo ngân hàng nêu lên trong buổi Hội thảo về tín dụng tại Học viện Ngân hàng - Hà Nội sáng ngày 7/5. Là người trong cuộc, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch Ngân hàng Liên Việt (LienVietPostBank) cho rằng lãi suất không phải là khó khăn với một số doanh nghiệp. "Đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tôi nghĩ lãi suất có 0% thì vẫn cao. Khi đầu ra không có, cho vay 0% thì họ cũng không vay nổi vì không trả được khoản gốc", ông Hưởng lo ngại.

Trao đổi với VnExpress.net về việc trần lãi suất có thể sẽ giảm thêm để tạo cơ sở giảm lãi suất cho vay, ông Hưởng cho rằng hạ lãi suất "chỉ nên vừa phải" để vẫn bảo vệ người gửi tiền thay vì cố cứu doanh nghiệp làm ăn yếu kém. Theo ông, chính những doanh nghiệp yếu kém làm ăn thua lỗ mới là những người kêu ca nhiều nhất về lãi suất. Nhóm này có không ít đại gia, nếu tính tổng tài sản trừ đi các khoản nợ đều âm.

Ông Nguyễn Đức Trung - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học ngân hàng của Học viện Ngân hàng - dẫn một kết quả nghiên cứu của Viện này cho thấy chính các doanh nghiệp thừa nhận lãi suất không phải vấn đề với họ. Ông Trung cho rằng tăng trưởng tín dụng ở Việt Nam kém nhạy cảm với lãi suất. Theo ông, lãi suất giai đoạn 2004-2012 dù cao cũng không cản bước các doanh nghiệp tìm mọi cách để vay vốn. Ngược lại, năm nay lãi suất dù thấp nhưng cũng không kích thích được tăng trưởng tín dụng. "Nói cách khác, nhân tố lãi suất chỉ đóng một vai trò khá mờ nhạt trong sự biến động của nguồn tín dụng từ ngân hàng", ông Trung kết luận.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Tổng biên tập Tạp chí Ngân hàng - cũng thừa nhận đặc trưng này. "Giả sử bong bong bất động sản chưa vỡ thì tôi nghĩ lãi suất 20% vẫn có rất nhiều doanh nghiệp vay", bà Hương nêu dẫn chứng.

Cách đây 2 ngày, "ông lớn" Vietcombank vừa giảm mạnh lãi suất huy động kỳ hạn ngắn và động thái này gợi mở không ít dự báo trần lãi suất tiết kiệm có thể giảm thêm. Theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Hưởng, dư địa hạ lãi suất nếu còn chỉ có thể giảm 0,5% và đây là mức lãi suất tiết kiệm hợp lý mà người gửi tiền có thể chấp nhận được. "Nếu trần huy động mà xuống 4%,5% hay 6% thì ai là người gửi tiền. Bẫy thanh khoản vẫn rình rập với các ngân hàng thương mại và xảy ra ngay khi các ngân hàng đua đẩy lãi suất huy động lên cao", ông Hưởng lo ngại.

Trước việc tín dụng vẫn chưa thể tăng cao dù đã có rất nhiều giải pháp được đưa ra, không ít ý kiến nêu việc hạ chuẩn vay vốn cho doanh nghiệp dễ tiếp cận. Tuy nhiên, bà Trần Thị Hồng Hạnh - Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng - cho rằng không thể làm vậy khi việc cho vay đã có cơ chế và quy trình chuẩn. Tiến sĩ Trịnh Quang Anh cũng lo ngại: "Nếu cứ hạ chuẩn, hô hào và ép tín dụng tăng bằng mọi cách, trong đó có việc ra sức hạ lãi suất thì mấy năm nữa lại rơi vào vòng luẩn quẩn".

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu thì gợi ý cho vay tín chấp có thể là lối thoát cho tăng trưởng tín dụng hiện nay. "Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã cạn tài sản đảm bảo, họ đến ngân hàng vay nhưng cứ đòi hỏi thế chấp thì lấy ở đâu ra", ông đặt vấn đề. Trước gợi ý này, đại diện cho Ngân hàng Nhà nước - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ Phạm Xuân Hòe khẳng định chính sách khuyến khích cho vay tín chấp đã có sẵn và Ngân hàng Nhà nước cũng tạo cơ sở pháp lý đầy đủ.

"Tuy nhiên việc thực hiện lại tùy vào khẩu vị rủi ro của mỗi ngân hàng bởi đó là quyền của họ", ông Hòe phát biểu. Từng 13 năm làm việc tại ngân hàng thương mại, ông Hòe cho rằng các ngân hàng cũng phải tìm cách "nuôi nợ" đối với doanh nghiệp trong bối cảnh này. Ông nêu trường hợp: "Nếu có 10 khách hàng trong ngành xây lắp đang có nợ xấu nhưng phương án kinh doanh tốt thì HĐQT ngân hàng có quyết dám bơm tiếp vốn để cho người ta trả nợ cho thành nợ đẹp không? Theo tôi nên quan tâm cả biện pháp này"

Theo Thanh Thanh Lan - nguồn: VnExpress
Tin bài khác:

Sunday, May 5, 2013

Chủ tịch VCCI: 'Hãy đầu tư và làm những gì thực tế nhất'

[Thư viện marketing] Cho rằng khó khăn kinh tế có thể còn kéo dài tới năm sau, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) - Vũ Tiến Lộc kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp bền trí và cố gắng trụ vững, tránh làm ăn chụp giật.

Ông Lộc trao đổi với báo giới nhận dịp kỷ niệm thành lập 50 năm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
- Bên cạnh những tác động chung từ nền kinh tế, ông đánh giá như thế nào về khó khăn nội tại của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay?

- Cũng như các nước đang phát triển khác, doanh nghiệp chúng ta hiện nay mới tập trung vào các lĩnh vực tốn nhiều chi phí, lao động và chủ yếu là gia công. Trong một khoảng thời gian dài, số lượng doanh nghiệp gia tăng khá ấn tượng, nhưng về quy mô và thương hiệu chưa tạo dựng được.

Việt Nam thiếu những doanh nghiệp phát triển trong ngành công nghệ cao, nhiều chất xám. Thu hút đâu tư nước ngoài thì có, nhưng chưa có sức lan tỏa và thiếu chiều sâu. Chúng ta chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp công nghệ cao, mà chủ yếu là đơn vị cần nhiều lao động. Cải cách khu vực kinh tế nhà nước chậm, dẫn tới năng lực cạnh tranh của khu vực này yếu. Trong khi, khu vực tư nhân thì vốn mỏng, nhiều doanh nghiệp làm ăn manh mún. Nói chung, thực trạng doanh nghiệp còn nhiều điểm hạn chế.

- Doanh nghiệp Việt Nam đã hội nhập vào kinh tế thế giới khá lâu, nhưng thực tế, hiện chưa có tên tuổi nào mang tầm thương hiệu quốc tế, ông lý giải việc này như thế nào?

- Giai đoạn đầu tiên khi Việt Nam mới mở cửa, rào cản kinh doanh dần gỡ bỏ, các doanh nghiệp có điều kiện phát triển tương đối tốt. Doanh nghiệp dựa vào những sản phẩm kinh doanh sản xuất thiết thực và cốt lõi. Họ không đa ngành nghề và biết nhắm những mục tiêu cụ thể. Tất nhiên, hầu hết là kinh doanh với quy mô vừa và nhỏ.

Sau này, khi nền kinh tế bùng nổ, bắt đầu xuất hiện nhiều lợi điểm cho hoạt động đầu cơ. Đâu đâu doanh nghiệp cũng đầu tư từ bất động sản, chứng khoán, ngân hàng đến vàng... chất lượng sản phẩm do những thay đổi về công nghệ sản xuất không được tập trung phát huy, mà nhắm tới những mối làm ăn nhanh, dễ, dựa vào quan hệ nên không tránh khỏi tâm lý đầu cơ, chộp giật, lãi lớn nhất thời. Một thế hệ "đại gia" dựa trên bất động sản, chứng khoán, tài chính... xuất hiện.

Bong bóng bất động sản, vàng, chứng khoán, ngân hàng... đang dần tan nát. Nhiều doanh nghiệp lớn, các "đại gia" không biết bấu víu vào đâu, tài sản sụt giảm mạnh. Những vấn đề cốt lõi như quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, đầu tư vào công nghệ, vào sản phẩm thực tế, vào thương hiệu một thời gian dài bị bỏ bẵng giờ mới chứng tỏ giá trị của mình. Nhưng một bộ phận doanh nhân đã bị chệch hướng quá lâu, khiến năng lực cạnh tranh cùng tài sản của họ giảm xuống. Doanh nghiệp to vì thế bé đi, doanh nghiệp bé thì không lớn được. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp nhìn lại mình, giúp những đơn vị tốt phát triển.

Ảnh: Hàn Phi

- Nhiều ý kiến cho rằng kinh tế khó khăn sẽ giúp sàng lọc những doanh nghiệp. Nhưng thực tế cho thấy thời gian qua, nhiều doanh nghiệp tốt vẫn chết, trong khi một số doanh nghiệp Nhà nước yếu kém lại tồn tại do nhận được hỗ trợ. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

- Về mặt pháp lý, chúng ta đã quy định các doanh nghiệp đều bình đẳng, nhưng thực tế, vẫn có sự bất bình đẳng trong cộng đồng này. Nó được thể hiện rõ nhất ở khối các doanh nghiệp nhà nước và những doanh nghiệp tư nhân. Trong khi đại bộ phận tài sản tập trung trong tay các doanh nghiệp nhà nước, và những sự ưu ái từ các ngân hàng dành cho họ là không thể phủ nhận, thì doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu là doanh nghiệp ít vốn lại không có được điều này.

Tất nhiên, nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp đến từ phía chính bản thân họ, chứ không phải từ bất cứ ngoại cảnh nào. Có bộ phận doanh nghiệp, từ khi thành lập, đã có xu hướng làm ăn chộp giật, ngắn hạn, đầu cơ, quản trị kiểu gia đình. Họ chưa chú trọng vào định hướng kinh doanh lâu dài, và chỉ muốn thành công nhanh, thiếu củng cố nội lực. Thực tế, đa phần các đơn vị như vậy đã phải trả giá cho chiến lược kinh doanh của mình.

Thêm vào đó, khó khăn chồng chất, thuế, phí cao, chính sách hay thay đổi, khiến nhiều doanh nghiêp nhỏ và vừa, mặc dù có nhiều tiềm năng không kịp thích nghi, dẫn tới sự đổ vỡ như chúng ta thấy trong thời gian vừa qua. Đó là bài học lớn về sự quản lý cần sự công bằng, nhất quán và việc đưa ra những chính sách hợp lý kịp thời.

- Ông đánh giá như thế nào về những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đã được triển khai?

- Không thể phủ nhận tính tích cực của các giải pháp mà Chính phủ đưa ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn hiện nay cần phải làm quyết liệt hơn nữa. VCCI đề nghị giảm mức thuế từ 25% xuống còn 20%, và áp dụng ngay từ 1/7 năm nay mà không cần phân biệt doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Có ý kiến cho rằng, giảm thuế như vậy không giúp được doanh nghiệp vì doanh nghiệp đâu còn tiền mà đóng thuế. Nhưng VCCI không nghĩ như vậy. Bởi lẽ, chúng ta đâu phải chỉ cần giúp doanh nghiệp yếu, mà cũng phải giúp cả những doanh nghiệp tốt. Khi doanh nghiệp có tích lũy về lợi nhuận thì mới tái đầu tư được và làm cho họ có sức cạnh tranh hơn trên thị trường.

Giảm thuế cũng là xu hướng chung của các nước trong khu vực, làm tăng nguồn đầu tư cả trong và ngoài nước. Không thể nhìn nhận giảm thuế làm giảm ngân sách trong năm xuống bao nhiêu, mà phải có góc nhìn rộng hơn, toàn cục hơn. Ngoài ra, có những biện pháp đã đề xuất từ khá lâu trong nghị quyết 02 cũng cần phải cương quyết thực hiện. Trong đó, về ngắn hạn cần giảm ngay gánh nặng thuế phí, thủ tục hành chính, lãi suất thực, và chi phí tiền thuê đất... Còn về dài hạn, cần xác định tính nhất quán trong điều hành, khắc phục yếu kém trong hệ thống tài chính, minh bạch thông tin... và thực hiện triệt để việc tái cơ cấu kinh tế.

- VCCI - với tư cách là người đứng đầu tổ chức về doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, mong muốn điều gì nhất ở thời điểm này?

- Hơn 2 năm qua, cộng đồng doanh nghiệp với sự lãnh đạo của các doanh nhân đầy hoài bão có lẽ đã trải qua những ngày "nhức óc" nhất trong sự nghiệp. Năm 2013, kinh tế chưa dễ dàng được phục hồi, khó khăn có lẽ còn kéo dài sang năm sau, chưa ai đoán trước được. Vì thế, bảo toàn lực lượng, củng cố nội lực để trụ vững trong bối cảnh hiện nay là một thành công lớn của doanh nghiệp. Tôi mong sự bền chí và vững tin của doanh nhân vào những lựa chọn của mình. Hãy đầu tư và làm những gì thực tế nhất, không phù phiếm, không chộp giật.

Mỗi một doanh nghiệp mất đi là điều không ai mong muốn. Là tổ chức hỗ trợ, VCCI có trách nhiệm rất lớn với những mất mát của doanh nghiệp thời gian qua. Trong điều kiện hiện tại, khả năng hỗ trợ cho doanh nghiệp của Chính phủ và của VCCI chắc chắn còn những hạn chế, nhưng không phải vì thế mà cơ hội cho doanh nghiệp mất đi. Cơ hội chắc chắn sẽ luôn còn rất nhiều.

Hàn Phi ghi - nguồn: VnExpress
Tin bài khác:

Tại sao lại nên khởi nghiệp khi tình hình kinh tế khó khăn?

[Thư viện marketingKhởi nghiệp đang là trào lưu và rất nhiều người muốn theo đuổi con đường này. Tuy nhiên trước tình hình kinh tế suy thoái và rơi vào tình cảnh tồi tệ, không ít người lưỡng lự. Vậy bây giờ có phải là thời điểm tốt để khởi nghiệp hay không? Hãy lắng nghe ý kiến của Paul Graham, một trong những người có ảnh hưởng nhất cộng đồng startup tại Mỹ.


Đây là bài essay của Paul Graham, người sáng lập Y-Combinator, vườn ươm khởi nghiệp thành công và nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Nhiều chuyên gia sợ rằng nền kinh tế không mấy sáng sủa hiện nay không khác gì những năm 75 thế kỉ trước…

Nhưng đấy cũng là thời điểm Microsoft và Apple được thành lập.

Điều đó gợi ý rằng lúc kinh tế suy thoái chưa hẳn là không tốt để bạn khởi nghiệp. Tôi cũng không cho rằng đó là thời điểm tốt. Sự thật còn rõ ràng hơn: Tình hình kinh tế thực ra không ảnh hưởng gì nhiều.

Có một điều chúng tôi rút ra được sau khi đầu tư vào hàng đống các công ty khởi nghiệp (startup) đó là:

"Phẩm chất của người sáng lập mới ảnh hưởng đến sự thành bại. Tình hình kinh tế cũng có ảnh hưởng, nhưng chả là gì so với vai trò của người sáng lập."

Điều đó có nghĩa rằng vấn đề ở đây là bạn là gì chứ không phải bạn khởi nghiệp khi nào. Nếu bạn giỏi, bạn sẽ thành công ngay cả khi kinh tế xấu. Ngược lại, nếu bạn kém thì nền kinh tế dù có tốt cũng chẳng cứu được bạn. Nếu cứ nghĩ rằng “Không nên bắt đầu kinh doanh khi kinh tế đang xấu” thì cũng dở chả khác gì cho rằng “Cứ đơn giản mở một công ty là sẽ giàu” khi thị trường có dấu hiệu bong bóng.

Vậy nếu muốn tăng cơ hội cho mình, bạn nên quan tâm đến việc tìm người đồng sáng lập nhiều hơn là tình trạng của nền kinh tế. Và những nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của công ty sẽ không nằm ở các bản tin, mà ở trong tấm gương, khi bạn nhìn vào chính bản thân mình.

Nhưng với những người đang muốn khởi nghiệp, có đáng để chờ cho đến khi kinh tế sáng sủa hơn? Có thể đáng để chờ nếu bạn định mở một nhà hàng, nhưng chả ích gì khi bạn làm công nghệ. Công nghệ phát triển nhanh hay chậm độc lập với thị trường chứng khoán. Vậy nên khi có ý tưởng, bắt tay vào làm ngay sẽ tốt hơn là ngồi chờ. Sản phẩm đầu tiên của Microsoft là trình thông dịch Basic cho máy Altair, và đó chính là thứ người ta cần khi đó vào năm 1975. Nếu Bill Gates và Allen hoãn đến năm sau thì có lẽ đã quá muộn.

Tất nhiên bạn còn nhiều ý tưởng khác nữa sau này. Luôn có những ý tưởng mới. Nhưng nếu bạn đang có một ý tưởng cụ thể, hãy tiến hành làm ngay.

Điều này cũng không có nghĩa rằng bạn có thể lờ đi tình hình kinh tế. Khi kinh tế khó khăn thì cả khách hàng lẫn nhà đầu tư đều ít tiền. Khi khách hàng không dư dả thì cũng không hẳn là vấn đề, thậm chí bạn còn có thể đắc lợi từ đó bằng cách bán các sản phẩm giá rẻ. Các công ty mới thường cạnh tranh bằng giá thấp, vì vậy ở khía cạnh này khi kinh tế khó khăn bạn sẽ có lợi hơn các công ty lớn.

Nhà đầu tư mới là vấn đề thực sự. Thường các startup cần phải có một khoản đầu tư bên ngoài, và khi kinh tế không tốt các nhà đầu tư cũng dè dặt hơn. Thực ra họ không nên như vậy. Ai cũng biết rằng ta nên mua khi tình trạng kinh tế xấu (giá rẻ) và nên bán khi kinh tế tốt. Nhưng, trong thị trường cổ phiếu, thời điểm tốt được định nghĩa là lúc mọi người đều nghĩ nên mua vào, mà thực tế thì không phải lúc nào cũng như vậy. Và đó là lý do tại sao chỉ có một số nhỏ những người đi ngược với đám đông mới có những quyết định đầu tư đúng đắn.

Thế nên, vào năm 1999, khi bong bóng dot-com bùng nổ, nhà đầu tư chen lấn nhau để mua vào cổ phiếu của một startup tồi, và hiện nay ta có thể đoán là họ sẽ lại dè dặt mua ngay cả những cổ phiếu của công ty tốt.

Bạn cần phải thích ứng với điều này. Thực ra cũng chả phải điều gì mới: các startup luôn phải thích ứng với sự đỏng đảnh của nhà đầu tư. Thử hỏi bất kì người sáng lập ở bất kì ngành nào xem nhà đầu tư của họ có hay õng ẹo không, và để ý đến thái độ của họ xem. Nay phải giải thích làm cách nào công ty của bạn sẽ phát triển, mai phải giải thích làm cách nào để chống chọi với suy thoái.

(Thật ra đấy cũng là việc tốt. Nhưng những sai lầm của nhà đầu tư không phải là cách họ phán xét mà họ luôn có xu hướng tập trung vào một vấn đề mà bỏ qua các vấn đề khác.)

Thật may, cách bạn làm startup cũng giống như cách bạn chống chọi với suy thoái: vận hành với chi phí thấp nhất có thể. Bao năm nay tôi vẫn luôn nói với các nhà sáng lập rằng con đường chắc chắn nhất đi đến thành công đó là trở thành “những con gián” trong một thế giới toàn các tập đoàn khổng lồ (biết khôn ngoan lựa chọn vị trí an toàn cho mình, dù vị trí đó không được hào nhoáng cho lắm). Khi hết tiền, một startup sẽ chết ngay lập tức. Vì vậy chi phí hoạt động càng thấp thì bạn càng khó chết. Và cũng thật may mắn chi phí hoạt động cho một startup thường thấp. Dù một đợt suy thoái thế nào xẩy ra thì nó vẫn cứ rẻ.

Nếu thảm họa hạt nhân có xẩy ra thì thà làm “con gián” còn hơn giữ việc làm ở các công ty lớn. Khách hàng sẽ ra đi lần lượt khi họ không còn đủ tiền trả cho bạn, nên bạn sẽ không bất ngờ mất hết khách. Thị trường không đối xử với bạn như cách các công ty “sa thải nhân sự”.

Giả sử nếu bạn đã bỏ việc, startup của bạn thất bại và bạn không tìm được việc làm khác thì sao? Sẽ là vấn đề nếu bạn làm việc trong mảng sale và marketing, vì sẽ cần hàng tháng trời để tìm việc mới khi kinh tế khó khăn. Nhưng các hacker (những người đam mê và có khả năng trong ngành công nghệ nói chung) thì linh động hơn. Những hacker giỏi luôn tìm được việc gì đó để làm. Có thể không được như mơ những ít nhất cũng không chết đói.

Một lợi thế khác khi kinh tế xấu đó là sẽ có ít cạnh tranh hơn. Công nghệ cũng như những đoàn tàu đều đặn rời ga. Nếu mọi hành khách khác đang nép vào góc vì sợ, bạn có thể có cả khoang để đi.

Là người sáng lập, bạn cũng là một nhà đầu tư. Bạn mua cổ phiếu bằng công sức của mình. Lý do Larry và Sergey giàu không hẳn bởi họ đã làm ra những thứ trị giá hàng chục tỉ đô, mà bởi họ là những nhà đầu tư đầu tiên vào Google. Và cũng như bất kì nhà đầu tư nào khác, bạn nên mua khi tình hình khó khăn.

Vài đoạn trước bạn có gật gù đồng ý rằng mấy tên đầu tư thật ngu không, khi tôi nói họ chần chừ đầu tư vào thị trường xấu, ngay cả khi đó là thời điểm đáng lý ra rất nên đổ tiền vào? Các ông sáng lập cũng không khá hơn. Khi tình hình khó khăn, nhiều người chọn con đường đi học tiếp. Chắc hẳn lần này cũng vậy. Thực ra, chính tại vì hầu hết mọi người đều không tin những gì tôi nói ở vài đoạn trước – ít nhất là họ cũng không dám làm thử như tôi nói.

Vậy có thể thời kì suy thoái là lúc tốt để khởi nghiệp. Cũng khó nói liệu lợi thế từ việc ít bị cạnh tranh có bù được bất lợi khi ít được đầu tư không. Dù sao kiểu gì cũng không phải là vấn đề lắm. Quan trọng là ở con người. Và dù là ai đi chăng nữa nhất là trong ngành công nghệ, thời điểm hành động luôn là ngay bây giờ.

Gia Khánh
--------0--------

Những nghề "HOT" dù suy thoái kinh tế

“Khó khăn” là từ nhiều người dùng để miêu tả cuộc sống của họ trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Khó khăn từ việc “chạy ăn” đến “công việc, thu nhập,...”. Tuy nhiên, không phải lúc nào suy thoái cũng đi liền với khó khăn.

Chuyên gia nghề nghiệp Andrea nói: “Suy thoái là thời điểm kinh tế chậm lại và sự phát triển của một quốc gia bắt đầu giảm sút. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại lớn về tài chính vì vậy việc cắt giảm nhân sự là điều khó tránh khỏi. Ý nghĩ khó có thể tồn tại trong thời kỳ suy thoái đã và đang chiếm lĩnh tâm trí của nhiều người. Tuy nhiên, suy thoái không có nghĩa là không thể kiếm tiền để nuôi sống gia đình, bản thân”.

Dưới đây là danh sách những công việc sẽ đem lại cho bạn thu nhập ổn định dẫu cho kinh tế có suy thoái.

1. Kỹ năng sáng tạo của bạn như nhiếp ảnh, hội họa có thể giúp bạn kiếm thêm thu nhập. Đầu tư một khoản nhỏ vào studio chụp ảnh là một ý kiến không tồi để bạn vừa có thể thỏa sức theo đuổi ước mơ, thể hiện tài năng vừa giúp gia đình kiếm tiền trong thời kỳ kinh tế đang khó khăn.

2. Làm đẹp bao giờ cũng là nghề “hot” vì đánh vào tâm lý con người. Ai cũng mong muốn mình đẹp hơn, tự tin hơn và đó là lí do làm đẹp luôn có thị trường dẫu cho kinh tế có suy thoái. Đầu tư vào một cửa hiệu làm đầu, spa hay một thứ gì đó liên quan đến làm đẹp là bạn đã có thể bắt đầu thiết lập lại cuộc sống của bản thân.

3. Lập một văn phòng nhỏ để tư vấn cho khách hàng về pháp luật liên quan đến thuế. Một người có kiến thức tốt về các loại hình thuế cùng những thứ liên quan sẽ là khởi nguồn tốt cho một kế hoạch kinh doanh. Đơn giản với một chiếc bàn, máy tính, phần mềm khai thuế là bạn đã có một văn phòng tư vấn sẵn sàng “tác chiến”.

4. Nếu giảng dạy là niềm đam mê thì đây là thời điểm dành cho bạn. Bạn có thể tìm những trung tâm ngôn ngữ để thực hiện ước mơ.

5. Bắt đầu buôn bán những mặt hàng tiêu dùng tại nhà cũng là một sự lựa chọn không tồi. Mặc dù kinh tế có suy thoái nhưng những nhu cầu hàng ngày như ăn, ngủ, nghỉ sẽ không thể thiếu. Vì vậy, khi nào con người còn nhu cầu thì công việc của bạn còn phát huy tác dụng và ngược lại. Tuy nhiên, không ai là không có nhu cầu vì thế đừng quá lo lắng.

6. Cũng theo chuyên gia Andrea: “Một số doanh nghiệp duy trì được trạng thái ổn định ngay cả khi kinh tế suy thoái. Trong thực tế, họ cần có một nguồn lao động tạm thời để đối phó với các trường hợp xấu nhất có thể xảy ra. Hãy thử tìm kiếm một “chân” trong nguồn lao động dự bị để tạm thời đảm bảo cho cuộc sống.

7. Các trang web và blog cũng có thể trở thành nguồn thu nhập cho bạn trong thời kỳ suy thoái. Bằng cách đặt quảng cáo thông minh trên các trang web, bạn có thể kiếm được một lượng tiền nhất định thông qua thế giới ảo.

8. Một tiện ích nữa của thế giới ảo đó là buôn bán hàng qua mạng. Đây đang được xem là một hình thức kinh doanh hiện đại với vốn đầu tư nhẹ nhàng mà lợi nhuận thu được lại cao. Bạn có thể buôn bán nhiều mặt hành khác nhau như quần áo, giày dép, túi xách, điện thoại,...
Thảo My

--------0--------

Sử dụng đồng tiền thời buổi khó khăn

Khi kinh tế khó khăn, một trong những nơi bạn có thể tìm kiếm lời khuyên khôn ngoan nhất đó là những người từng trải qua thời khủng hoảng - chẳng hạn như ông bà của bạn. Và đây là 10 ý tưởng bạn có thể thu được từ họ, đăng trênthestreet.

1. Tiết kiệm không phải là từ xấu

Nhiều người thường đánh đồng sự tiết kiệm với "rẻ tiền", nhưng điều đó không phải là sự thật.

Tiết kiệm đơn giản là sử dụng tối đa những gì bạn có và mua, không mua những thứ bạn không thực sự cần đến.

Trong khi ông bà cha mẹ bạn học được cách tiết kiệm trong thời kỳ khó khăn, nhiều người vẫn tiếp tục làm điều đó kể cả khi kinh tế đã khá lên, và điều đó giúp họ giàu có.

2. Sử dụng những gì bạn có

Trong một xã hội tiêu thụ, bất cứ vấn đề gì bạn gặp phải luôn có thể được giải quyết bằng tiền. Nếu có thứ gì hỏng, chỉ việc ra ngoài mua thứ mới. Nếu có thứ gì vỡ, ra ngoài mua thứ thay thế.

Nhưng thời của ông bà bạn, khi có thứ gì vỡ, việc đầu tiên họ làm là xem có thể sửa chữa được không. Nếu không thể sửa được, thì trước khi vứt vào sọt rác, họ cũng sẽ xem liệu nó có ích vào việc khác hay không. Không có lý do gì để ra ngoài và tốn tiền vào một thứ mới trong khi bạn có thể vẫn tìm cách sử dụng lại món đồ mà bạn đã có.

3. Tự mình xử lý nếu có trục trặc

Khi sửa chữa thứ gì đó, việc đầu tiên ông bà bạn làm là tự mình tìm hiểu vấn đề. Thay vì gọi cho thợ, trước tiên họ xem mình có thể làm được hay không.

Điều quan trọng bạn cần nhớ là hầu hết công việc sửa chữa không thực sự khó như bạn tưởng, và bạn có thể tự mình làm với một chút tìm tòi và kiên nhẫn.

4. Mọi vật đều có thể sử dụng cho nhiều mục đích

Mọi người có xu hướng mua một món đồ cụ thể và sử dụng nó cho mục đích duy nhất ấy. Điều mà ông bà bạn biết rõ là mọi thứ đều có thể tái sử dụng trong vòng đời của chúng. Chiếc áo sơ mi sờn cổ, không thể mặc ra ngoài có thể trở thành cái áo ngủ ban đêm, và trở thành giẻ lau khi nó bắt đầu thủng lỗ.

5. Nợ nần là điều nên tránh

Trong thời đại của thẻ tín dụng, khi tiêu tiền, điều mà bạn không có hiện nay là sự tư vấn rằng làm điều đó đúng hay sai, trong khi thời của ông bà bạn, mọi người đều tin chắc nợ nần là điều nên tránh. Nếu họ có tiền, họ sẽ đơn giản là vạch ra kế hoạch để thực hiện việc mình muốn. Mượn bạn bè hoặc người thân, tiết kiệm tiền hoặc tìm một thứ khác để dùng thay thế..

6. Tích cốc phòng cơ (để dành cho lúc khó khăn)

Mọi người đều biết rằng trước sau gì sẽ có những ngày mưa gió. Ông bà của bạn hiểu rõ điều này và đặc biệt để dành tiền cho những ngày mưa gió ấy. Còn giờ đây, bạn nên nghĩ rằng sẽ là chuyện bình thường khi để dành một quỹ khẩn cấp, khi tài chính không đi đúng hướng như bạn hình dung.

7. Đồ cũ cũng có thể tốt như đồ mới

Việc mua một chiếc ô tô cũ còn tốt mới qua sử dụng 2-3 năm đã trở thành lời khuyên tài chính cho những ai muốn sở hữu xe hơi. Ông bà của bạn hiểu rằng chuyện xảy ra với người chủ cũ không có nghĩa là đồ vật đó bị xem là vô giá trị. Họ cũng biết rằng điều này không chỉ đúng với xe hơi, mà còn mở rộng sang hầu hết lĩnh vực khác, khi mà thị trường đồ second-hand hết sức phong phú.

8. Thời trang không phải là mục tiêu chính

Khi mua bán, ông bà của bạn biết rằng không phải bề ngoài của thiết bị đó thế nào, mà là nó làm được gì mới quan trọng. Một chiếc Rolex trông sang đấy, nhưng nó không hiện giờ tốt hơn một chiếc đồng hồ thường mua tại cửa hàng gần nhà. Hãy học cách mua đồ vật vì chức năng của nó chứ không phải vì ngoại hình để tiết kiệm tiền.

9. Mặc cả

Khi phải mua một món đồ, ông bà của bạn không chạy tọt ra cửa hàng và khuân về ngay. Họ sẽ bỏ thời gian để mặc cả. Việc đó có nghĩa là tìm hiểu mặt bằng giá rồi đợi đến khi phù hợp, chứ không chỉ là rút thẻ tín dụng ra và mua, ngay cả khi trong thẻ không đủ tiền. Mặc cả mất thời gian, nhưng khi làm được, bạn sẽ có thành quả lớn.

10. Bánh ở nhà là ngon nhất

Trong một xã hội mà mọi thứ đều có thể mua bán thuận tiện, thật khó mà nhớ được lần cuối cùng bạn tổ chức bữa ăn ở nhà là khi nào. Điều mà ông bà bạn biết là không chỉ rẻ hơn, mà món ăn do mình nấu ở nhà cũng ngon hơn nhiều. Hãy nghĩ thế này, có bao giờ bạn định bán đĩa bánh của ông bà làm cho bất kỳ hiệu bánh tên tuổi nào?

Những cách tiêu tiền trên dường như quá đơn giản trong thời đại mà các công cụ kinh tế đầy rẫy như hiện nay, nhưng nguyên tắc sống dưới mức tiềm năng, tích cốc phòng cơ, đạt được bằng cấp và đầu tư vào tương lai vẫn là những châm ngôn có thể mang lại ích lợi cho rất nhiều người ngày nay.

Thuận An
(*) Sưu tầm & tổng hợp: tư vấn khởi nghiệp

Toàn văn: Đề cương cải cách giáo dục - Hoàng Tụy

[Thư viện marketing] Trên website Hocthenao.vn, GS Ngô Bảo Châu thông qua tài khoản Thichhoctoan đã giới thiệu toàn văn đề cương cải cách giáo dục của GS Hoàng Tụy. Sau đây, Giaoduc.net.vn xin đăng tải nguyên văn đề cương này để bạn đọc xa gần cùng theo dõi, bày tỏ suy nghĩ về tâm huyết của người thầy đáng kính của bao thế hệ, trong đó có cả GS Ngô Bảo Châu.

Từ lâu giáo dục đã trở thành chỗ nghẽn lớn nhất trong sự phát triển của đất nước. Vì vậy cải cách giáo dục toàn diện và triệt để theo tinh thần các nghị quyết của TƯ là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống.
Sau đây là bản kiến nghị đề cương cải cách giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong vài mươi năm tới. Bản đề cương gồm ba phần chính:

I. Quan điểm tổng quát, cũng tức là triết lý cơ bản của giáo dục mới.
II. Những vấn đề chính và cấp bách cần giải quyết.
III. Lộ trình và tổ chức thực hiện.

I. Quan điểm tổng quát

Đây có thể coi là vấn đề của mọi vấn đề, nó là cái gốc chi phối từ sứ mạng, phương châm cho đến nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục.

Trong thế giới hiện đại, yêu cầu hội nhập quốc tế đặt ra ngày càng gay gắt cho mọi dân tộc, nếu ta chỉ muốn xây dựng giáo dục theo con đường riêng của mình, thì dù với những lý tưởng đẹp đẽ và dân khí rất cao như trong thời hoàng kim của cách mạng, sớm muộn chúng ta cũng không tránh khỏi bị đào thải trong cuộc cạnh tranh quốc tế quyết liệt. Huống hồ sau 1975 đất nước đã bước sang một giai đoạn lịch sử mới, có biết bao vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội phức tạp trước đây chưa bao giờ gặp. Hơn nữa sau khi giành được độc lập, thống nhất, ta xây dựng lại đất nước trong bối cảnh cả nhân loại chuyển lên nền văn minh trí tuệ. Nhiều cơ hội mới mở ra từ đây cho những dân tộc giàu tiềm năng như chúng ta, đồng thời đất nước cũng đối mặt với những thách thức to lớn không dễ gì vượt qua nếu không đủ dũng khí chia tay với những tập quán, cách suy nghĩ, làm ăn, ứng xử, từng là nếp sống quen thuộc một thời.

Cho nên ngày nay hơn bao giờ hết, không gì cản trở sự tiến bộ của xã hội hơn thái độ đóng kín, thiếu cởi mở với cái mới, e ngại thay đổi, chủ quan tự mãn, không muốn, không dám nhìn thẳng vào những yếu kém của mình mà chỉ say sưa tự ru ngủ với quá khứ vẻ vang và tự dối mình bằng những thành tích tưởng tượng hoặc giả tạo.

Có thể nói đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn còn giữ khá nhiều quan niệm cổ hủ thời phong kiến nho giáo, thậm chí thời trung cổ Châu Âu. Nặng tính giáo điều kinh kệ, nhằm biến con người thành một phương tiện – dù là phương tiện để thực hiện những lý tưởng cao quý – hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Đã đến lúc cần nhìn thẳng vào thực tế để nhận rõ những hệ luỵ tiêu cực của tình hình đó đối với tương lai dất nước. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng cứ áp đặt một ý thức hệ định sẵn vào nội dung và phương pháp giáo dục thì sẽ đào tạo được những con người khuôn theo ý thức hệ đó. Kinh nghiệm thực tế khắp nơi trên thế giới đều cho thấy ngược lại: sự mâu thuẫn xung khắc giữa giáo lý trong nhà trường với thực tế phũ phàng ngoài xã hội thường là nguyên nhân phát sinh và nuôi dưỡng gian dối, đạo đức giả và bạo lực, cuối cùng đưa đến bất ổn trầm trọng trong xã hội.

Lịch sử các nước Phương Tây cho thấy chỉ sau khi thế tục hoá nhà trường, tách nhà trường ra khỏi Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo thì khoa học, kỹ thuật hiện đại mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đồng thời Nhà Thờ không vì thế mà mất vị trí tinh thần của nó trong xã hội. Đối với chúng ta, mà mục tiêu tối thượng của dân tộc là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tưởng cũng cần một giải pháp tương tự cho giáo dục mới có thể mở đường chấn hưng đất nước. Cuộc sống từ lâu đã đòi hỏi nhà trường phải thoát khỏi chế độ bao cấp tư tưởng với những ràng buộc giáo lý cứng nhắc đang có tác dụng kìm hãm thay vì khai sáng trí tuệ1. Thay vào đó, cần đề cao tính nhân văn: rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, như trong mọi nhà trường tiên tiến trên thế giới. Đó mới chính là dạy người theo nghĩa cao quý nhất. Một khi sản phẩm của nhà trường là những con người tự do, với nhân cách và phẩm chất hướng theo hệ thống giá trị phổ quát của nhân loại thì cái mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới có cơ may hiện thực. Bằng không, nếu chỉ chăm chăm đào tạo con người theo khuôn mẫu đúc sẵn thì cái mục tiêu ấy mãi mãi xa vời. Bởi lẽ trong một thế giới, một thời đại, đầy biến chuyển khó lường mà thế hệ chúng ta đang trải qua, mọi khuôn mẫu đúc sẵn đều không thể thích nghi được.

Giáo dục hiện đang đứng ở ngã ba đường, giống như kinh tế những năm giữa thập kỷ 80. Nếu lúc bấy giờ ta cứ kiên trì đường lối kinh tế tập trung bao cấp và tiếp tục dị ứng với cơ chế thị trường như hồi 1968, khi đó VN đã cùng với cả phe xã hội chủ nghĩa lên án mạnh mẽ chủ nghĩa xã hội thị trường Tiệp Khắc2, thì không biết điều gì đã xảy ra. May thay, nhờ nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống với tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân, chúng ta đã kịp thời nhận ra nguồn gốc bế tắc của xã hội và đã có can đảm thay đổi tư duy, chấp nhận chính cái cơ chế thị trường ngày nào đã bị chúng ta bác bỏ. Đường lối đổi mới nhờ thế đã ra đời, cứu đất nước khỏi sự sụp đổ nhãn tiền. Đó là bài học sâu sắc.

Ngày nay, sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.

Đương nhiên đây là công việc không hề dễ dàng vì phải đoạn tuyệt với nhiều quan niệm, cách sống và nếp nghĩ đã ăn sâu trong tâm khảm nhiều thế hệ từ thời chiến đấu giành độc lập thống nhất. Nhưng là giải pháp trước sau gì cũng phải làm, mà càng để chậm trễ thì đất nước càng hụt hơi, càng bị cô lập và khó thích ứng kịp với những biến chuyển bất ngờ trong thế giới văn minh ngày nay.

II. Những vấn đề chính cần giải quyết trong cuộc cải cách giáo dục

Sau khi đã xác định quan điểm tổng quát về sứ mạng cơ bản của giáo dục, mọi vấn đề cụ thể về tổ chức giáo dục, nội dung chương trình học các cấp, phương pháp giáo dục, v.v . đều phải xem xét giải quyết trên cơ sở quan điểm đó. Bản đề cương này không đi sâu vào các vấn đề cụ thể có tính chất kỹ thuật là phần việc của các chuyên gia sau này mà chỉ tập trung nêu lên những định hướng lớn làm nền tảng và khuôn khổ giải quyết các vấn đề cụ thể ấy.

Có 4 vấn đề lớn sau đây cần cấp bách giải quyết theo định hướng hội nhập tích cực vào trào lưu chung của thế giới văn minh.

1. Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của mình.

Có thể nói chính sách đối với người thầy là một trong những điểm khác biệt cơ bản của giáo dục VN so với thế giới và là nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất làm tha hóa giáo dục.

Có một nhà khoa học lớn nước ngoài tâm huyết với VN khi được hỏi về điều gì cần thay đổi cấp bách nhất để chấn hưng giáo dục, đặc biệt là đại học, đã không chút ngần ngại nói ngay đó là chế độ lương kỳ quặc không thấy đâu trong thế giới văn minh nhưng đã tồn tại dai dẳng ở VN từ hàng chục năm nay. Một chế độ lương biểu thị không gì khác hơn là sự khinh miệt đối với lao động giáo dục và khoa học, trái hẳn với chủ trương tôn vinh nhà giáo đã được lãnh đạo khẳng định lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần suốt thời gian qua.

Với đồng lương thấp đến mức khó tưởng tượng, đương nhiên nhà giáo và các quan chức giáo dục đều phải xoay xở để kiếm thêm thu nhập. Chính đó là cái lỗ hổng quản lý gây nên hoặc làm trầm trọng thêm hầu hết các căn bệnh trầm kha đã ra sức tàn phá giáo dục3. Chúng ta nói nhiều đến bệnh giả dối, gian trá, thành tích ảo, v.v. nhưng làm sao chống được các bệnh ấy để có một nền giáo dục trung thực, lành mạnh, nói chi đến hiện đại, nếu cái nguyên nhân gây ra các bệnh ấy nằm ngay trong cơ chế, nói cách khác nằm ngay trong khuyết tật hệ thống của giáo dục?

Sự thật, nhờ xoay xở đủ mọi cách hợp pháp hay không hợp pháp, hợp lý hay trái với lương tâm, phần lớn nhà giáo, nhất là quan chức giáo dục, nay đã có mức sống không đến nỗi quá tệ, thậm chí một bộ phận nhỏ còn có thu nhập khá. Song cái giá phải trả thật quá đắt. Những giải pháp chữa cháy gần đây theo kiểu “kế hoạch 3” hồi những năm 80 thế kỷ trước, hay cho phép nhiều cơ sở giáo dục vượt rào để xử lý từng trường hợp riêng lẻ về lâu dài rất nguy hiểm, chỉ gây thêm rối loạn, dẫn đến bất công và tiêu cực ngày càng tệ hại hơn.

Điều không may là giải quyết vấn đề cốt tử này cực kỳ khó vì căn bệnh từ lâu đã thành một thứ ung thư của cả xã hội, chứ không riêng gì của giáo dục, lại gắn liền chặt chẽ với quốc nạn tham nhũng đang ngày càng gia tăng chóng mặt. Trước mắt chưa thể hy vọng có thể chữa trị nhanh chóng cái ung thư này, cho nên giáo dục phải tìm mọi cách tự cứu lấy mình trong phạm vi có thể, may ra còn nêu gương cho các ngành khác để tiến dần đến một giải pháp chung. Theo tính toán của nhiều chuyên gia, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng dù trong phạm vi cả nước còn khó khăn thì ngay trong nội bộ ngành giáo dục, vẫn có thể rà soát lại cơ chế tài chính, kiên quyết bỏ hay giảm bớt mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm lương đủ sống và dần dần trở thành thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương, đạo đức trong giáo dục.

Trong một xã hội mà đời sống kinh tế bị thao túng nặng nề bởi các “nhóm lợi ích”, ai cũng thấy đây là việc vô cùng khó, tuy khả thi về điều kiện vật chất khách quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại cực kỳ lớn. Biết thế, song giáo dục là lĩnh vực cần bảo vệ trong sạch nhất, nếu không cương quyết làm bây giờ mà cứ trì hoãn mãi thì sẽ ngày càng khó hơn và sẽ chẳng bao giờ có hy vọng trả lại lòng tự trọng cho giáo dục, chẳng bao giờ xây dựng được một nền giáo dục lành mạnh, trung thực, hiện đại.

2. Cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề

Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn.

Lãng phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó vì thiếu công nhân lành ghề và kỹ thuật viên thông thạo nên công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, sau mấy thập kỷ xây dựng công nghiệp mà cuối cùng chỉ có lắp ráp, xuất khẩu tài nguyên thô, thì làm sao giàu được. Tình trạng lãng phí đó vừa thiệt hại cho xã hội vừa tạo mầm mống bất ổn trong thanh niên.

Lãng phí lớn thứ hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với thói hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. Trẻ em ta học hết 12 năm THPT thì mệt nhoài, lên đại học và trên nữa thường mau đuối sức khi đua tranh với bạn bè các nước mà ở đó tuổi thiếu niên vừa được học vừa được chơi, chơi mà học, để dành sức sau này có thể tiến lên xa vào những giai đoạn quyết định của cuộc đời.

Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng 2/3) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ 1/3 vào trung học phổ thông. 

Học xong trung học hướng nghiệp có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề nhưng nếu muốn cũng có thể học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) vì chương trình học, ngoài phần hướng nghiệp, vẫn bảo đảm phần văn hoá cơ bản cần thiết. Còn trung học phổ thông có nhiệm vụ chủ yếu chuẩn bị đầu vào cho đại học. 

Theo hướng đó cần phát triển mạnh trung học hướng nghiệp, đồng thời cấu trúc lại chương trình và cách học ở trung học phổ thông cho phù hợp với nhiệm vụ của cấp học này. Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban bất cập hiện nay để tổ chức lại việc học như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Với cách học đó học sinh cả trung học hướng nghiệp và trung học phổ thông đều không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến. Đó mới là cách thực tế và hiệu quả giảm tải ở cấp học phổ thông, chứ không phải như hiện nay, chương trình bị kẹt giữa hai yêu cầu mâu thuẫn: vừa giảm tải vừa không hạ thấp chất lượng. 

Hơn nữa về những môn hợp với xu hướng sở thích thì học sinh có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp có đủ hiểu biết tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Như thế tránh được nhiều sự lãng phí cho cả xã hội lẫn cho từng cá nhân học sinh. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở THPT4.

3. Thay đổi căn bản cung cách học và thi, xoá bỏ thi cử nặng nề, tốn kém mà kém hiệu quả


Đồng thời với cải tổ hệ thống giáo dục, thì cách học, cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi tận gốc. Đặc biệt cần đổi mới căn bản tư duy thi tốt nghiệp và tuyển sinh. Trong một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun) ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc ngay môn đó, phần đó, đến cuối cấp không thi lại từng môn, từng học phần nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích chủ yếu kiểm tra trình độ văn hóa phổ quát (giống như kiểm tra chất lượng lắp ráp các môđun trong nhà máy). Hơn nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với những ai muốn vào học ĐH, CĐ. Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST) và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo đặc biệt4.

Cách học và thi như thế khác hẳn cách học và thi hiện nay là dồn tất cả sự kiểm tra vào cuối cấp trong một kỳ thi tốt nghiệp mà nhiều người cho là thi vờ vì chỉ để loại vài phần trăm thí sinh, là những em quá kém không cần thi cũng có thể loại được theo học bạ. Có ý kiến cho rằng tuy thi vờ nhưng là cần thiết vì tâm lý học sinh là có thi thì mới học tử tế5. Té ra là vậy: đất nước còn rất nghèo mà phải tốn kém hàng chục nghìn tỉ mỗi năm tổ chức thi chỉ để dọa và gây áp lực buộc học sinh phải học. 

Cùng một luồng ý kiến đó nhiều quan chức giáo dục cho rằng trong điều kiện hiện thời, thầy cô giáo chịu quá nhiều áp lực không lành mạnh từ phía xã hội nên rất khó bảo đảm việc học và thi nghiêm túc từng môn, từng học kỳ, ở từng lớp, từng địa phương được. Cho nên không còn cách nào khác là phải thi tôt nghiệp, dù chỉ là thi vờ. Nói thế khác nào bảo một nền giáo dục trung thưc là ngoài tầm với của xã hội ta hiện nay – thật lạ lùng và xót xa, vì một nền giáo dục trung thực đâu có gì quá khó, nó đã từng có ở cả hai Miền Bắc và Nam suôt từ 1945 đến 1975. 

Một ý kiến xác đáng hơn là quy một phần nguyên nhân phát triển gian trá trong thi cử là do chương trình quá nặng, mà thi tốt nghiệp lại quá căng thẳng: thi viết gần hết các môn trong thời gian chỉ mấy ngày, tiềm ẩn rủi ro học tài thi phận, khiến một số học sinh dễ nảy ra tư tưởng đối phó bằng thủ đoạn gian dối, cầu cứu đến cả sự giúp sức của phụ huynh và thầy cô giáo. Đúng là chương trình quá tải cũng là một vấn đề, nhưng không thể giảm tải theo kiểu cắt giảm lung tung như chúng ta đã làm lâu nay mà chủ yếu phải cải tổ cả hệ thống giáo dục phổ thông như đã trình bày ở trên, chấm dứt cách giáo dục đồng loạt, quá nặng với số đông lại quá nhẹ với số có khả năng. Đông thời để bảo đảm tính trung thực, trước hết phải thực hiện kiểm tra, thi học kỳ nghiêm túc, nghĩa là trung thực, ngay từ những lớp nhỏ nhất chứ không đợi đến cuối cấp. Khi đó mới có thể thi tốt nghiệp nhẹ nhàng, chỉ cốt để kiểm tra chất lượng tổng hợp, tức là trình độ văn hóa phổ quát, hoặc thậm chí chỉ xét kết quả học tập theo học bạ để cho tốt nghiệp mà không phải thi.

Điều quan trọng ít người chú ý là lối thi tôt nghiệp và tuyển sinh như hiện nay tạo ra áp lực tâm lý và tinh thần rất lớn, đặt thí sinh trước những thử thách vượt quá khả năng chịu đựng của các em. Trong một xã hội mà xung quanh quá nhiều dối trá, rất hiếm trung thực, nếu đặt thiếu niên trước những thử thách trung thực quá sức thì cũng chẳng khác nào đưa trẻ ra phơi nhiễm giữa một vùng đang dịch bệnh, làm sao trẻ tránh không bị nhiễm. Cho nên chẳng lạ gì kỳ thi nào cũng có chuyện quay cóp, gian dối, mà những chuyện đã bị phanh phui chỉ là phần nổi của tảng băng. 

Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.

4. Chuyển mạnh giáo dục đại học theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế về cả nội dung, phương pháp và tổ chức quản lý

Chỉ nhìn qua hệ thống đại học VN hiện nay cũng đã thấy cảnh tượng lộn xộn, rất khác mọi nơi trên thế giới: trường nào, kiểu gì, cũng gọi là đại học, trong một đại học lại có thể có nhiều đại học thành viên, dịch ra tiếng Anh tất cả đều là university, không phân biệt university với school, ai muốn hiểu ra sao thì hiểu6. Đành rằng đây chỉ là vấn đề tên gọi, nhưng nó cũng phản ảnh một nét riêng “không giống ai” của đại học VN. Đi sâu hơn vào hoạt động cụ thể của đại học càng thấy rõ sự tụt hậu bắt nguồn từ lối suy nghĩ chủ quan tự cho mình có thể tự biên tự diễn, bất chấp thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Cho nên muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng. 

Chúng ta đang rớt lại sau đuôi thiên hạ, tại sao cứ muốn làm độc đáo, khác người để mãi mãi thất bại? Ngay đến một nước có truyền thống khoa học, giáo dục lâu đời như Pháp mà cách đây 30 năm khi đánh giá nền đại học lúc ấy của họ nhà khoa học lỗi lạc Pháp L. Schwartz cũng đã từng lên tiếng: “nếu Pháp là nước duy nhất trên thế giới còn muốn giữ lại mãi một số quan niệm cũ về giáo dục đại học thì hoặc chúng ta đúng và nền đại học của ta phải là tiên tiến và được ngưỡng mộ nhất thế giới – điều rõ ràng không phải vậy – hoặc chúng ta sai và cần phải thay đổi”. Cho hay yêu cầu cùng đi con đường chung với cả thế giới không phải chỉ đặt ra cho các nước kém phát triển.

Cái khó là trước đây hệ thống giáo dục đại học của ta phỏng theo mô hình giáo dục đại học Liên Xô cũ. Đến khi nhận rõ mô hình đó không còn thích hợp mà phải thay đổi theo yêu cẩu mới của công cuộc phát triển đất nước, ta lại không có những nhà quản lý đủ hiểu biết chuyên nghiệp cần thiết và nắm vững tính hệ thống nên cứ thay đổi nham nhở, chắp vá, cuối cùng biến giáo dục đại học thành một hệ thống đầu Ngô mình Sở, chẳng giống ai cả. Đã thế mà từ 2006 lại mạo hiểm lao theo chiến lược tân tự do trong phát triển giáo dục, cổ suý giáo dục là hàng hóa, phát triển mạnh trường tư vị lợi, cổ phần hóa đại học công, v.v. 7 

Trong khi đó, mọi vấn đề từ chế độ tiền lương, chính sách sử dụng tài năng, từ việc đào tạo sau cử nhân, phương thức đào tạo liên ngành, cho đến tuyển dụng, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, bảo đảm tự chủ đại học, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học, tự do học thuật, tất cả đều ở trạng thái cổ hủ, lạc hậu. Chẳng khác nào đường sá thì lầy lội gồ ghề, đầy ổ trâu ổ gà, lại chủ trương nhập xe hơi xịn phóng nhanh cho oai. Chính cái tâm lý chưa biết đi đã đòi chạy, cái lối học kinh nghiệm thế giới theo kiểu thầy bói sờ voi đó là nguồn gốc tất cả những yếu kém, khó khăn của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam dù đã tốn không ít công sức xây dựng qua mấy thập kỷ.

Công bằng mà nói, từ vài năm lại đây, sau nhiều bài học thất bại, nhận thức cũng đã có ít nhiều thay đổi, nhờ đó đã có những cố gắng tich cực hướng tới hội nhập quốc tế. Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế, do sức ỳ quán tính của bộ máy quản lý còn nặng, do tư duy vẫn luẩn quẩn trong những giáo điều dai dẳng và những ràng buộc thể chế ngặt nghèo. Rõ nhất là về mục tiêu, sứ mạng đại học, về phương thức đào tạo, về quyền tự chủ đại học và tự do học thuật, nghĩa là về các vấn đề then chốt nhất của đại học hiện đại, quan niệm chung của chúng ta còn rất mơ hồ, lệch lạc, có mặt lạc hậu nửa thế kỷ.

Cho nên thách thức lớn nhất của giáo dục hiện nay là hiện đại hóa đại học, đưa đại học hội nhập thật sự vào con đường phát triển chung của thế giới. Hãy dứt khoát rủ bỏ những gì lạc hậu, trì trệ còn níu kéo chúng ta để chuyển mạnh theo mô hình giáo dục đại học Hoa Kỳ là mô hình được thừa nhận tiên tiến và đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Có thể nói thành bại của cuộc cải cách giáo dục một phần quyết định tùy thuộc tiến trình hiện đại hóa đại học này.

III. Lộ trình và tổ chức thực hiện

Cải cách giáo dục cần phải được thực hiện kiên quyết, khẩn trương, nhưng không vội vã. Sau khi Trung Ương và Quốc Hội thảo luận và thông qua đề cương cải cách nêu lên phương hướng chính cùng với những khâu mấu chốt cần giải quyết trong cải cách, thì cần thành lập Ủy Ban Quốc Gia Chỉ Đạo Cải Cách Giáo Dục, bao gồm những người có năng lực và có tâm huyết, vừa có tầm nhìn vừa thật sự quan tâm, lo lắng cho giáo dục. Ủy ban này sẽ vạch ra lộ trình và kế hoạch thực hiện cụ thể để có thể hoàn tất công cuộc cải cách sau khoảng một thập kỷ. Trước mắt để thực hiện được cải cách ở những khâu cấp bách phải tổ chức nghiên cứu những vấn đề cụ thể như chương trình và sách giáo khoa cho các cấp phổ thông, phương pháp giảng dạy ở các cấp, đổi mới thi cử, v.v. theo quan điểm tư duy mới. Biết rằng trong hiện tình đất nước có vô vàn khó khăn, nhưng đây cũng là thời cơ để giáo dục có thể lột xác, từ một kiểu giáo dục nặng tính giáo điều, lạc hậu và lạc điệu với thời đại và thế giới, tiến lên một nền giáo dục khai sáng, lành mạnh, trung thực, hiện đại, phù hợp xu thế tiến hóa chung của nhân loại và đáp ứng lợi ích tối cao của đất nước.

———
Chú thích:

1 : Một trong những nguyên lý bất khả tranh luận chỉ đạo nền giáo dục trước đây một thời là giáo dục phải tuyệt đối phục tùng chính trị, trong nhà trường chính trị là thống soái, trong hai vế “hồng” và “chuyên” thì “hồng” là tiên quyết. Mặc dù qua cọ xát thực tế nguyên lý ấy đã buộc phải nới lỏng nhiều, nhưng nó vẫn còn ảnh hưởng đậm nét trong nhiều khâu quan trọng về nội dung, phương pháp giáo dục, về rèn luyện đạo đức, về cách tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, cất nhắc cán bộ.

2 : Do Dubcek, nhà lãnh dạo Tiệp Khắc khi ấy, khởi xướng. Ông này sau đó đã bị lật đổ trong một cuộc can thiệp quân sự mạnh mẽ của Liên Xô mà hồi ấy cả khối xã hội chủ nghĩa đều ủng hộ.

3 : Cái phần thu nhập thêm ngoài lương đó thật ra cũng từ ngân sách hoặc từ đóng góp của người học, nhưng bắt buộc nhà giáo phải mất sức làm thêm nhiêu việc không hợp lý (chủ yếu là dạy thêm, dưới nhiều hình thức). Thành ra thay vì trả lương đủ một cách đương hoàng thì người ta chia lương ra thành hai phần: một phần nhỏ, goi là lương chính thức, quy định chặt chẽ, còn phần kia (cũng từ ngân sách hoặc đóng góp của dân) thì tùy thuộc sự xoay xở của mỗi người – chức càng cao khả năng và phạm vi xoay xở càng lớn.

4 : Gần đây có nhiều ý kiến đề nghị rút thời gian trường phổ thông xuống còn 11 năm. Theo tôi điều này chỉ đặt ra với trường phổ thông được quan niệm như hiện nay là học thẳng một mạch, tôt nghiệp thì ra đời hoặc học lên đại học. Với trường phổ thông quan niệm như vậy sẽ không tránh khỏi hai bất cập lớn của trường phổ thông hiện nay như trên đã phân tích (chỉ có khác là 11 năm thay vì 12 năm). Còn để có học vấn phổ thông phổ cập khi ra đời thì chỉ cần 9 năm THCS như đề nghị của chúng tôi là đủ, sau đó hoặc học trung học hướng nghiệp, hoăc trung học phổ thông để chuẩn bị đầu vào đại học.

5: Để biện minh chủ trương duy trì thi tốt nghiệp THPT một số quan chức giáo dục thường viện lẽ trên thế giới bất cứ nước nào cũng có thi tốt nghiệp. Đây là thông tin sai, nhất là nếu hiểu thi tôt nghiệp là thi theo kiểu ta. Nhân đây tôi nhớ lại khi bàn về phân ban ở THPT trước đây 8 năm một số người muốn bênh vực cách phân ban cứng nhắc của ta thường viện dẫn lý do phần lớn các nước trên thế giới đều làm như vậy, thậm chí còn dẫn ra ở Thụy Điển THPT có đến cả vài chục ban. Hỏi ra mới biết đó là do hiểu sai cách tổ chức học ở THPT Thụy Điển và nhiều nước khác.

6 : Trươc kia ở Miền Bắc, theo mô hình Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ Đại học Tổng hợp mới dịch là University, cho nên Hanoi University là dịch tên Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nay có Đại Học Hà Nội mới mở, cũng gọi là Hanoi University nhưng hoàn toàn không liên quan với Đại học Tổng hợp xưa. Thật là rối.

7: Một nét khác biệt, không giống ai cả, của đại học công lập VN là bên cạnh hệ chính quy, còn có hệ “ngoài ngân sách”, học phí cao của sinh viên hệ này dùng để tăng thu nhập cho thầy dạy, bù vào lương chính thức quá thấp. Đây thực chất không khác gì một loại trường tư trá hình, ghép vào trường công để sử dụng phương tiện của trường công. Nếu kể càc hệ này là ngoài công lập thì thật ra tỉ lệ sinh viên ngoài công lập ở VN phải đến 60-70% chứ không ít hơn, Ở nhiều nơi số sinh viên tuyển vào hệ này xấp xỉ số sinh viên chính quy, tạo ra một nguồn thu nhập khá cho thầy dạy, với cái giá phải trả là tăng gấp đôi hoặc hơn số giờ dạy cho các thầy, vừa hạ thấp chất lượng đào tạo ngay trước mắt, vừa khiến cho thầy dạy không còn thì giờ nghiên cứu khoa học hoặc học thêm nâng cao trình độ. Số này sau một số năm như vậy, nếu có được cử đi du học thì sức bật cũng không còn nhiều, còn nếu cứ tiếp tục ở lại trường thì ngày càng đuối sức so với yêu cầu, không theo kịp được đà tiến nhanh của khoa học, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng về lâu dài.
Tin bài khác:

Thất nghiệp ở Việt Nam: Có thể so sánh với Hy Lạp?

[Học marketing] “Các chỉ số thất nghiệp lại rất thiếu thực chất khi thống kê tại Việt Nam” - chuyên gia phản biện Lê Đăng Doanh nhận định có vẻ chua chát.

Lại chuyện số liệu

Gần cuối tháng 4/2013, Tổng cục Thống kê mới công bố các số liệu về tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam.

Theo đó, số người thiếu việc làm tính tới đầu năm 2013 là 1,32 triệu người, chỉ tăng 70.000 người so với cùng kỳ năm 2012. Là nơi được xem có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất nước, TP.HCM cũng chỉ có khoảng 3,2% số lao động không có việc làm, trong khi tại Hà Nội tỷ lệ này thấp hơn nhiều - 1,92%, còn các vùng khác từ 1-2%.

Một con số khác của Tổng cục Thống kê - số người thất nghiệp chính thức vào thời điểm quý 4/2012 là 857.000 người.

Nhưng theo ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội: “Không thể có chuyện trong một năm kinh tế gặp nhiều khó khăn như năm 2012: hơn 50.000 doanh nghiệp giải thể hoặc dừng hoạt động; hơn 400.000 lao động thất nghiệp, nghỉ việc, nhảy việc…; các thị trường tiếp nhận lao động nước ngoài thu hẹp, lao động xuất khẩu không tăng…, mà số lượng tạo việc làm mới vẫn đạt 1,6 triệu!”.

Thất nghiệp nhiều quá!

Quả thật, trong thời gian gần đây, báo chí trong nước đã đồng loạt phản ánh thực trạng không thể phủ nhận về “Thất nghiệp nhiều quá!”, không chỉ tập trung vào lực lượng lao động phổ thông và công nhân có tay nghề thấp, mà ngay cả một số người có bằng thạc sỹ cũng phải tìm kế sinh nhai với những công việc không tương xứng như bán nước, quán ăn, hoặc những việc khác hoàn toàn trái ngành đào tạo.

Còn nhớ vào đầu năm 2013, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê cũng đã tổ chức một hội nghị công bố về số liệu thất nghiệp và giải quyết việc làm mới. Theo đó, năm con Rồng đã thật sự đánh dấu hình ảnh “cất cánh” của ngành lao động khi tỷ lệ thất nghiệp được kìm nén chỉ ở mức 1,99%.
Theo thành tích trên, điều luôn được các cơ quan hành chính luôn coi là thành tích chắc chắn đã “vươn lên một tầm cao mới”: tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm trong những năm gần đây, với năm 2011 là 2,22% và năm 2010 là 2,8%.

Nhưng như bình luận đầy hàm ý của một tờ báo trong nước, thực trạng thất nghiệp theo báo cáo của cơ quan chức năng Việt Nam sẽ không sai nếu “chỉ xét về mặt số liệu”.
Còn về mặt “phi số liệu” thì sao?

VnExpress - một trong những tờ báo điện tử ở Việt Nam, đã tiến hành một cuộc “trưng cầu dân ý” vào thời điểm cuối năm 2012 với chủ đề “Nỗi lo lớn nhất hiện nay của bạn là gì?”. Kết quả là có đến 32,2% số người được hỏi chọn nỗi lo mất việc, giảm lương, vượt qua cả vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, lạm phát hay bệnh tật ốm đau.

Việc công bố những số liệu của những cơ quan như Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê lại diễn ra trong bối cảnh mà lần đầu tiên từ trước tới nay, Ủy ban Kinh tế Quốc hội khẳng định con số doanh nghiệp phải giải thể và phá sản trong hai năm qua đã lên đến 100.000.

Hoàn toàn trái ngược, vào cuối năm “rồng cất cánh”, một thống kê của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM lại nêu ra những dẫn chứng có tính thực tiễn cao: nhu cầu lao động ngành dệt may, da giày trong quý 4/2012 giảm đến 43% so với quý 3 cùng năm và giảm hơn một nửa so với cùng kỳ năm trước đó. Dệt may và da giày cũng là một trong 5 nhóm ngành tuyển dụng ít nhất ở quý cuối cùng của năm 2012.

Bầu không khí của Tết Nguyên đán 2013, khác hẳn thời kỳ 2007-2010 thể hiện rõ điều đó: Thay cho thông lệ ồ ạt tuyển dụng lao động thời vụ dịp gần Tết để đẩy mạnh sản xuất, hoàn tất đơn hàng, nhiều công ty lại ngưng tuyển dụng, thậm chí còn giảm bớt nhân lực.

Rất nhiều hoàn cảnh khó khăn và thương cảm của công nhân phải nghỉ việc và sinh viên phải bỏ học đã xảy ra từ Bắc chí Nam.

Hy Lạp?

Ông Lê Đăng Doanh - một chuyên gia có nội hàm phản biện, nhận định có vẻ chua chát: “Số liệu thống kê lao động và việc làm tại Việt Nam lâu nay vẫn tồn tại nhiều bất cập, cả về tính chính xác lẫn ý nghĩa đối với nền kinh tế. Chỉ tiêu tạo việc làm mới vẫn đều đặn được báo cáo là hơn một triệu mỗi năm, nhưng để chỉ ra những việc làm ấy ở đâu thì rất khó. Trong khi đó, các chỉ số thất nghiệp lại rất thiếu thực chất khi thống kê tại Việt Nam”.

Một cách hiển nhiên, vòng quay vốn phản ánh sắc nét sự trì trệ của nền kinh tế. Liên tiếp trong hai năm 2011-2012, vòng quay vốn chỉ đạt 0,8 lần, giảm sút đến hơn phân nửa so với hơn hai lần của những năm trước.

Tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân diễn ra đầu tháng 4 tại Nha Trang, Tiến sĩ Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, tính toán rằng các doanh nghiệp đang hoạt động (khoảng 450.000), đều phải giảm công suất ít nhất 30%. Đặt qua một bên con số 2,8 triệu cán bộ, công chức mà như Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng phải lên tiếng rằng 30% “không làm việc”, có thể cho rằng tỷ lệ thất nghiệp cũng ở mức tương ứng 30%.

Con số này còn cao hơn cả Hy Lạp, quốc gia vừa phải thông qua luật cải cách để có thể nhận được gói cứu trợ từ EU và IMF, tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ. Theo con số mới công bố của cơ quan thống kê EU (Eurostat), tỷ lệ thất nghiệp tại 17 quốc gia trong khối đã chạm mức kỷ lục 12,1%. Đứng đầu trong số đó là Hy Lạp với 27,2%. Nên nhớ, nền kinh tế Mỹ đứng đầu về sản lượng và đang phục hồi mạnh mẽ cũng phải mất tới 4 năm mới giảm được tỷ lệ thất nghiệp từ 10% vào năm 2009 xuống 7,6% hiện nay.

Theo Viết Lê Quân - nguồn: songmoi
Tin bài khác: